Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

BÀN THÊM VỀ HUYỀN THOẠI LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ

BÀN THÊM VỀ HUYỀN THOẠI LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ
Hoàng Văn Khoán[1]
Ở nước ta cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới đều có một kho tàng huyền thoại phong phú. Huyền thoại không phải là lịch sử, nhưng khi chữ viết ra đời, lịch sử có một giai đoạn huyền thoại. Lạc Long Quân kết hôn với Âu Cơ, sinh ra 100 trứng, đẻ ra 100 người con trai… Đấy là huyền thoại. Huyền thoại là cái vỏ bên ngoài bọc lấy cái lõi lịch sử bên trong. Vậy cái lõi lịch sử trong câu chuyện huyền thoại này là gì ?
Trong bài viết “Rồng và tiên trong lịch sử đồ tượng Việt Nam” (Phạm Quỳnh Hương Trang, 2001), Phạm Quỳnh Hương Trang đã không bóc tách được các yếu tố thần thoại, cho Lạc Long Quân và Âu Cơ là nhân vật có thật. Cũng như thế Nguyễn Minh Hiệu trong bài “Từ hình tượng thực của con rồng Việt Nam thủa ban đầu đến tên gọi Lạc Long Quân trong tiếng Việt” (Nguyễn Minh Hiệu, 1983), tác giả cũng khẳng định Lạc Long Quân là cha rồng của dân tộc.

Mọi người đều biết rằng con người bước ra khỏi thế giới động vật đi lang thang để kiếm sống bằng nghề hái lượm và săn bắt. Đó là hai nghề đầu tiên của bất kỳ một dân tộc nào. Tại các hang động và dưới mái đá, nơi ở của người Hậu kỳ Đá cũ và Sơ kỳ Đá mới người Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn đã để lại các vết tích của hai nghề đó: Phấn hoa các loài thảo mộc, các loại hạt na, hạt mận, hạt trám… cùng với công cụ như bàn nghiền hạt. Các loại vỏ ốc (ốc núi, ốc suối), xương răng các loài động vật bên cạnh công cụ lao động bằng đá do họ chế tạo.
Những tán dư của nghề hái lượm vẫn tồn tại đến ngày nay. Người ta vào rừng lấy măng trúc măng mai, hái sim, đào củ… về bán ở các chợ. Người Tây Nguyên không có thói quen trồng vườn, phụ nữ thường vào rừng hái lá cây về giã nẫu canh. Người Hương Sơn, Hà Tĩnh có món ăn đặc sản là nộm hoa chuối rừng…
Nghề hái lượm không phải dễ dàng, phải trèo đèo lội suối, chống chọi với thú dữ để dành giật sự sống. Do đó họ không thể đi riêng lẻ mà phải tập hợp nhiều người thành một cộng đồng. Đứng đầu cộng đồng này là một người đầu đàn mà trong huyền thoại gọi là tiên (Con rồng cháu tiên). Chữ tiên theo hán tự một bên là bộ nhân đứng ( ) nghĩa là con người, bên phải là bộ chữ sơn () là núi. Tiên () có nghĩa là người trên núi. Đó là những bộ tộc làm nghề hái lượm, do một người đàn bà đứng đầu mà các nho sĩ mệnh danh là Âu Cơ.
Song song với nghề hái lượm là nghề săn bắt các động vật dưới nước. Đó là những người làm nghề chài lưới. Cũng như nghề hái lượm, nghề chài lưới cũng có những cộng đồng người.
Ở Đồ Sơn, Hải Phòng có địa danh 8 làng vạn – Bát Vạn. Ban ngày mỗi người đều một phương. Tối đến thuyền đậu san sát nhau tạo thành những làng vạn chài ven biển.
Trong các di chỉ từ thời đại đá, đồng, sắt, khảo cổ học đã phát hiện vô số các dụng cụ đánh bắt như lưới câu, chì lưới, lo ngạnh, xỉa… chưa kể đến các loại nơm, đó, vó, lừ bằng tre nứa đã bị mai một. Ở dưới biển có rất nhiều loại cá, đặc biệt có loài cá hung dữ như cá sấu, cá he, cá mập. Chúng sống thành từng đàn thường đến ven biển kiếm mồi gây nguy hiểm tính mạng cho dân chài và những cư dân sống ven biển. Ở Vịnh Hạ Long có loại cá he nếu mắc vào lưới, nó phá tung lưới, có khi lật đổ cả thuyền.
Mặc dù vậy, chúng vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng và là đối tượng săn bắt của cơ dân cổ. Ở di chỉ Cái Bèo thuộc đảo Cát Bà có niên đại thuộc Sơ kỳ Đá mới, khảo cổ học đã phát hiện hàng ta xương cá, xương to như xương trâu.
Trong thời kỳ chống Pháp, dân chài Nam Bộ còn đánh bắt cá sấu, chói từng con kết thành bè để chở đi bán chỗ khác. Ngày nay cá sấu đang trên đường thuần dưỡng.
Muốn đánh bắt động vật dưới biển có hiệu quả, dân chài phải xăm mình những hình ảnh và màu sắc giống chúng. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, ngoại kỷ (Quyển 1) có ghi “Người nước Văn Lang làm nghề đánh cá bị thuồng luồng làm hại. ‘Vua’ bảo lấy mực vẽ hình thủy quái lên mình. Từ đấy thuồng luồng không làm hại nữa”. Khi Trần Nhân Tông lên ngôi cũng khắc hình rồng vào vế đùi để không vong bản. Bởi dòng dõi nhà Trần xuất thân từ nghề đánh cá.
Cái tên Lạc Long Quân mới được đặt ra ít nhất cũng có từ thế kỷ 17 khi Nho học nước nhà phát triển. Các nhà Nho thường đặt tên địa danh, nhân vật hoặc các hiện tượng tự nhiên bằng Hán Việt. Vĩ dụ ở xã Diễn Thọ, Diễn Châu, Nghệ An có ngọn núi, dân địa phương gọi là núi Yên Ngựa, các thầy Nho ở làng gọi là Mã Yên Sơn. Giữa cánh đồng có một lèn đá hai vai giống người, dân gọi là lèn hai vai, các cụ đồ gọi là Lưỡng Kiên Sơn… Cái tên Lạc Long Quân cũng vậy, thời tiền sử con người chưa có danh tính, lại chưa có vua. Lạc Long Quân là một từ Hán Việt. Long ở đây không phải là rồng, long cũng không đồng nghĩa với cá sấu. Long ở đây là hình một người dân chài xăm mình đứng đầu tộc người đánh cá dưới biển. Cá sấu trên rìu và qua Đông Sơn là đối tượng săn bắt được nghệ thuật hóa.
Không rõ căn cứ vào đâu Văn Tân cho rằng Tô Tem Việt là rồng rắn. Khi nhà Hán sang thì rắn biến thành rồng. Ông cho rằng tục xăm mình cũng có ý nghĩa Tô Tem, về sau có tính giai cấp và phổ cập (Văn Tân, 1959).
Cũng làm nghề đánh bắt, nhưng có những bộ tộc chuyên săn bắt các loài thú hoang dã. Trong hang động người tiền sử còn để lại xương cốt các loại động vật nhỏ như chim, chuột, chồn, cáo… đến xương răng những loài thú lớn như voi, hổ, tê giác… Đó là thành quả của nghề đánh bắt thú hoang dã. Để dễ dàng tiếp cận với hoang thú, những thợ săn phải hóa thân bằng lông chim, lông thú, lá cây, mặt nạ. Nghề săn được tiền hành bằng nhiều thủ pháp khác nhau: đi săn bằng thuyền, nhử mồi cho cá sấu lên bờ rồi bao vây, săn đuổi. Việc săn bắt hoang thú cũng cần có các bộ tộc, liên minh bộ tộc. Đương nhiên săn bắt cũng phải có người đứng đầu, có sức khỏe, có mưu kế, phải biết tổ chức. Người đó được các bộ tộc tôn sùng theo nghĩa dân gian là Đại ca – người Hùng, theo thư tịch gọi là thủ lĩnh, về sau gọi là vua, vua Hùng.
Vua Hùng không phải là con đẻ của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Vua Hùng là một con người thực sự, một thủ lĩnh đứng đầu các liên minh bộ tộc, đã có công khai thiên lập địa, lập ra nhà nước sơ khai – nhà nước Văn Lang. Cơ sở vật chất của nhà nước Văn Lang cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới thuộc về thời đại đồ đồng.
Địa bàn của nhà nước Văn Lang lúc đầu ở vùng trung du Phú Thọ và Vĩnh Phúc ngày nay. Người kế tục vua Hùng là An Dương Vương mở rộng địa bàn ra cả vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc bao gồm nhiều bộ tộc: Săn bắt, hái lượm, chài lưới, trồng trọt, các nghề thủ công như chế tạo đá, luyện đồng, luyện sắt…
Ngày nay tất cả các dân tộc trên khắp mọi miền đất nước đến ngày mồng 10 tháng ba về đền Hùng để tưởng nhớ công ơn dựng nước của Hùng Vương tổ phổ.
Các vua Hùng đã có công dựn nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước
(Chủ tịch Hồ Chí Minh)
Một số vấn đề rút ra:
1.     Dân tộc Việt Nam hiện nay có nguồn gốc từ đâu ?
Các sử gia phong kiến, đặc biệt là các học giả phương Tây dựa vào tài liệu thư tịch Trung Quốc thuần túy mà cho rằng người Việt có nguồn gốc từ Trung Quốc hoặc Ấn Độ tới. Một số người khác cho huyền thoại là có thật, cho dân tộc ta là do Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra, có nguồn gốc con rồng cháu tiên.
Tài liệu khảo cổ học tích lũy hàng trăm năm nay có thể dựng lại quá trình hình thành dân tộc Việt Nam một cách đúng đắn nhất. Bước vào thời kỳ Cánh Tân (Pleistocene) cách đây mấy chục vạn năm con người đã xuất hiện trên vùng đất Việt Nam. Những công cụ đầu tiên như rìu tay, các mảnh tước Levalois, Clacton đã phát hiện ở Núi Đọ, Quan Yên I, Núi Nuông ở Thanh Hóa và các địa điểm Hanh Gòn, đồi Sáu Lé, suối Đa, Núi Cẩm Tiên, Cầu Sắt, Gia Tân… ở miền Đông Nam Bộ là những bằng chứng chứng minh Việt Nam là một trong những điểm xuất hiện loài người sớm ở Châu Á và Đông Nam Á. Việc sáng tạo ra các công cụ lao động là điểm đặc biệt nói lên con người tác khỏi động vật.
Tại các hang động, khảo cổ học đã phát hiện răng người hóa thạch, như ở hang Thẩm Hai và thẩm Khuyên ở Lạng Sơn, đặc biệt là hang Thẩm Ồm ở Nghệ An đã phát hiện 5 răng người hóa thạch có cả công cụ, xương cốt một quần thể ở vùng nhiệt đới. Các nhà nhân chủng học đó là răng người vượn Erectus (vượn người đứng thẳng) đang trong quá trình chuyển hóa thành người Homo Sapiens (người khôn ngoan hay người hiện đại).
Nền văn hóa vật chất của những con người này là những công cụ ghẽ đẽo kiểu Chopping và Chopping – Tool niên đại Hậu kỳ Đá cũ thuộc nền văn hóa Sơn Vi có niên đại từ 3 vạn đến 1 vạn năm. Cho đến nay, khảo cổ học đã phát hiện 140 điểm thuộc văn hóa này, tập trung ở các thềm của các lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Chu, tập trung nhiều nhất ở vùng Phú Thọ.

Nối tiếp văn hóa Sơn Vi từ 18.000 năm đến 3.500 năm ở Việt Nam đã diễn ra một cuộc cách mạng đá mới, mà nội dung của nó là hoàn thiện kỹ thuật ghè đẽo, tu chỉnh ép đến các kỹ thuật cưa, khoan, mài, tiện, đánh bóng tạo ra nhiều nghề thủ công như chế tác đồ đá, làm gốm, xe sợi, dệt vải, làm mộc, đan lát, đa dạng hóa các nghề kiếm sống như săn bắn, hái lượm, đánh cá, đặc biệt là làm nông và chăn nuôi. Bức tranh sống động về thời kỳ này được biểu hiện trên một loạt văn hóa: văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn, văn hóa Quỳnh Văn, văn hóa Bàu Tró, văn hóa Hạ Long, văn hóa Mai Pha, văn hóa Hà Giang, văn hóa Biển Hồ. Cuộc cánh mạng đá mới ở Việt Nam đã dẫn đến việc chinh phục thiên nhiên, chiếm lĩnh đồng bằng và tiến ra biển.
Có thể nói cuộc cách mạng đá mới tạo ra tiền đề cho sự xuất hiện một cuộc cách mạng mới, cách mạng luyện kim. Phát minh kỹ thuật đúc đồng luyện sắt tại chỗ tạo ra nhiều công cụ sản xuất và vũ khí sắc bén làm phát triển một nền nông nghiệp trồng lúa đã phát sinh trước đó, nay lan tỏa cả vùng trung du, vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Dân số phát triển, định cư thành những làng mạc trù phú. Khảo cổ học đã phát hiện 70 làng, có làng ruộng từ 2 – 3 vạn m2 như Phùng Nguyên, Văn Điển. Cuối thời đại đồ đồng có làng rộng tới 5 – 6 vạn m2 như Chiến Vậy.
Làng mạc là cơ sở hạ tầng, là tế bào của nhà nước sơ khai – nhà nước Văn Lang – Âu Lạc. Nền văn hóa vật chất mà lớp người này để lại hết sức đa dạng và phong phú bao gồm công cụ sản xuất, công cụ chài lười, săn bắt, các loại vũ khí bằng đá, đồng, sắt, các loại đồ trang sức bằng xương, bằng sừng, bằng ngọc, bằng thủy tinh, các loại đồ gốm gia dụng như nồi niêu, ấm chén, bát, đĩa…  Một đời sống tinh thần như nhảy múa, trang phục và táng thức mang ý nghĩa tâm linh, tôn giáo.
Tất cả đã tạo nên một chuỗi hệ thống văn hóa mang tính bản địa: văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun, văn hóa Đông Sơn.
Dân tộc Việt Nam anh hùng ngày nay không phải từ đâu tới, mà là hậu duệ của các lớp tiền bối nói trên đã từng sinh ra trên đất nước Việt Nam đã khai phá rừng núi, hải đảo, chống thiên nhiên, chống giặc giữ làng để lại một nền văn hóa có một bề dày lịch sử đầy bản sắc và đậm đà tính dân tộc.
2.     Nghệ thuật nguyên thủy
Quá trình lao động săn bắt, hái lượm, luyện kim đã làm phát sinh và phát triển nghệ thuật nguyên thủy. Đề tài chủ yếu là con người và động vật.
Nghệ thuật biểu hiện con người phát triển theo đà phát triển lực lượng sản xuất xã hội. Ở Đồng Ky (Thái Nguyên) có một số phiến thạch được khắc vẽ hình mặt người có mắt, miệng, sống mũi mang tính ước lệ. Trên vách hang Đồng Nội (Lạc Thủy – Hòa Bình) có bức vẽ 3 mặt người có đầy đủ lông mày, sống mũi, mắt, miệng, mái tóc rẽ đôi có đường môi ở giữa. Mặc dù vẫn mang tính ước lệ nhưng đã nhấn mạnh tính đặc trưng. Ba mặt người khá giống nhau về phong cách, khuôn mặt chữ điền, có lẽ tác giả muốn biểu hiện tính đồng tộc, huyết thống phản ánh trên khuôn mặt.

Đến văn hóa Đông Sơn, hình người trên các đồ đồng rất đa dạng phản ánh nhiều mặt của một xã hội phát triển và nhiều mối quan hệ. Các hình người trên các cán dao găm Làng Vạc (Nghệ An), Thủy Nguyên (Hải Phòng), Đông Sơn (Thanh Hóa), Lãng Ngâm (Bắc Ninh) đã biểu hiện tính đặc trưng cao hơn, khuôn mặt hình trái xoan, thân hình cân đối, ngực nở, bụng thon, trang sức, y phục có lẽ tác giả muốn thể hiện kiểu người mẫu đương thời, đồng thời phản ánh tính tộc người khá phong phú.
Trên thạp đồng Đào Thịnh, một cặp trai gái đang làm tình với nhau. Người con gái được biểu hiện đặc trưng bằng cặp vú, mà nội dung của nó mang tính phồn thực.
Một loại hình nghệ thuật có tính phức tạp hơn là miêu tả con người với thiên nhiên, với động vật. Trên chiếc rìu Đông Sơn mô tả cảnh đi săn bằng thuyền. Đây là một đặc trưng cảnh đi săn trong rừng nhiệt đới. Người đứng trên thuyền cho chó săn vào đuổi hưu nai, chó săn bị hưu nai chống cự. Người trên thuyền xua tay hò hét để thúc giục, cổ vũ làm tăng sức mạnh cho người bạn đường trung thành của mình.
Những cảnh hóa trang bằng lông chim, bông lau trên các đồng đồng Đông Sơn, nhất là trên trống đồng phản ánh hiện thực săn bắt được đưa vào nghệ thuật nhảy múa, có lẽ là sinh hoạt trong lễ hội.
Nghề săn bắt là tiền đề cho nghề chăn nuôi. Những con vật từ hoang thú đã được thuần dưỡng như voi, hổ, rắn trên cán dao găm, những cặp bò trên trống đồng Làng Vạc, Đồi Rú Trăn có một dáng đứng hiền lành, u nổi cao, đây là những động vật thuần dưỡng để làm sức kéo trong nền nông nghiệp dùng cày.

Đề tài nghệ thuật nguyên thủy phổ biến là động vật. Trong thực tế với nghề săn bắt, người nguyên thủy bắt buộc phải quan sát con vật khá kỹ về hình dáng, động tác, phải có cái nhìn rất tinh tế mới có thể thể hiện động vật một cách hiện thực. Trên chiếc rìu đồng phát hiện ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, có một đàn có 13 con, mỗi con một tư thế nhưng rất giống nhau về tính cách. Cả đàn cò đang đứng trên bàu nước có cá bơi lội. Những hình ảnh như con chim mỏ dài, mỏ ngắn, cá, rùa, ếch nhái, cá sấu, gà, bò, ngựa thường đi thành cặp đôi, ít khi đi riêng lẻ. Đó là đời sống giữa con đực con cái, trống mái sống gắn bó, thủy chung, bảo vệ nhau trong mọi hoàn cảnh. Nhờ quan sát kỹ lưỡng nên nghệ thuật của người xưa được thể hiện rất sinh động.

Tóm lại mọi động vật đều là đối tượng săn bắt của con người đã đực nghệ thuật hóa mang tính hiện thực và nhân văn cao.
Nghệ thuật phản ánh săn bắt của người nguyên thủy ở Việt Nam cũng giống nghệ thuật hang động của các tộc người trên thế giới.
Ở hang Levanto (Tây Ban Nha) tìm thấy một bức vẽ săn bắn sơn dương bằng cung nỏ. con sơn dương chạy như bay, chân không chạm đất. Levanto nằm dọc bờ biển của bán đảo Pirênây. Cả vùng này đã phát hiện có các bản vẽ tung tự trong 70 hang.
Ở Nam Ô Ran thuộc sa mạc Sahara có một bức vẽ khá sinh động: voi mẹ đang bảo vệ con của mình trước sự đe dọa của con hổ. Bên cạnh có hai con bò rừng sừng cong và dài đang húc nhau.
Ở hang Antaniza (Italia) có bức tranh vẽ một đàn thú trong trạng thái hỗn độn. Nghệ sĩ mô tả kiểu săn bắt bao vây, dồn đàn thú vào thế khó lường.
Nhà khảo cổ I.P. Frăng tơ xép kết luận rằng sự xuất hiện nghệ thuật nguyên thủy phát triển trong quá trình tiến bộ xã hội và lao động. Tư duy và ngôn ngữ phát triển ra nghệ thuật tạo hình hiện thực.
Như vậy, từ Hậu kỳ Đá cũ kéo dài suốt thời đại đồng, nghề săn bắt, săn bắn ở Việt Nam cũng như thế giới nổi trội. Đi theo nó là sự phát sinh, phát triển nghệ thuận phản ánh hiện thực săn bắn.

Tài liệu dẫn
1.     Nguyễn Minh Hiệu, Từ hình tượng thực của con rồng Việt Nam thuở ban đầu đến tên gọi Lạc Long Quân trong tiếng Việt, Tạp chí Khảo cổ học, Số 2, 1983.
2.     Văn Tân, Về vấn đề Tô Tem người Việt, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Số 2, 1959.
3.     Phạm Huỳnh Hương Trang, Rồng và tiên trong lịch sử đồ tượng Việt Nam, Tuổi trẻ chủ nhật, Số 12, 2011.
Đăng tại: Thông báo Khoa học, Số 1 - 2013, tr.16 - 23.




[1] PGS.TS.NGND. Khoa Lịch sử, Trùng ĐH KHXH và Nhân văn, ĐH QGHN

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

MƯỜI SỰ KIỆN ĐÁNG NHỚ NĂM NHẤT

Thoáng chốc năm nhất đại học đã đi qua thật nhanh như cơn gió thoảng, mới ngày nào còn chập chững bước từng bước ngập ngừng trên sân trường Nhân Văn.
Sau 1 năm SV, có lẽ đáng nhớ nhất là 10 sự kiện này:
1. Đỗ đại học với số điểm 24.5
2. Nhập trường và chính thức bước vào quãng đời SV
3. Sống ở KTX một năm
4. Đạt một số học bổng như: Hoa Trạng Nguyên, Tiếp sức đến trường, Thắp sáng niềm tin
5. Tham gia hoạt động đoàn của chi đoàn và liên chi đoàn
6. Trúng tuyển đội SV Tình nguyện Xung Kích
7. Bắt đầu đọc và tích lũy sách
8. Bắt đầu làm quen với NCKH SV, người đầu tiên giúp đỡ là thày PGS.TS.NGND Hoàng Văn Khoán
9. Kết thúc năm học với kết quả học tập 2,79; được đoàn khen thưởng, được giấy khen của Trường ĐH KHXH & NV, HN
10. Tham gia tiếp sức mùa thi

10 SỰ KIỆN ĐÁNG NHỚ NĂM 2

Như vậy là năm 2 trôi qua thật nhanh tựa như bóng câu bên cửa sổ...
Tổng kết 10 sự kiện năm 2 để sau này đọc lại để nhớ...
1. Chuyển từ KTX ra ở trọ
2. Chuyển từ học tiếng Anh sang học tiếng Trung
3. Có bài viết đăng trên tạp chí Xưa & Nay số 438 (10 - 2014)
4. Buổi đối thoại SV với nhà trường
5. Vượt qua một kỳ học 27 tín chỉ với kết quả không tồi
6. Hoàn thành 2 bài nghiên cứu khoa học SV với kết quả không tồi
7. Tủ sách đã trên 200 đầu sách
8. Có bài viết in trên tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 2, năm 2014
9. Hoàn thành bài viết tham gia hội thảo Thái - Kdai tổ chức vào khoảng tháng 8 - 2014 với sự giúp đỡ của những người đáng kính
10. Một nửa chặng đường đại học đã trôi qua

Đối thoại SV 2014 - bài học lớn

chụp ảnh với chủ tịch hội sử học thế giới GS. Marc Jason Gilbert 

Báo cáo NCKH SV 2014

Sách một tình yêu bao la
Màu áo xanh tình nguyện

Áo xanh một tình yêu

Đại hội đoàn ĐH KHXH & NV, 2014 - 2017
 Những nẻo đường khám phá - Cầu Long Biên

Những nẻo đường khám phá - Sông Hồng

Những nẻo đường khám phá - Về bản Nùng
Tạp chí Xưa & Nay số 438 - bái viết đầu tiên đăng tạp chí

Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 2, 2014 - Bái viết thứ 2 đăng tạp chí


Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

HỌC TRÒ

HỌC TRÒ
Mùa hạ nào trong ta mùa hạ cuối
Khi sân trường xao xác cánh phượng rơi
Đời học trò hỏi làm gì có tuổi
Nên hạ về lại thấy nhớ chơi vơi.

Dù ngày tháng học trò sắp xa rồi
Xin nụ cười hãy đừng tắt trên môi
Cứ vui đi cậu học trò tinh nghịch
Dẫu mai đây mỗi đứa một phương trời.

Dù tương lai có chia lìa đôi ngả
Bạn đi về vùng đất đó rất xa
Nhưng long ta luôn đậm sau nỗi nhớ
Những tâm hồn bé nhỏ nghịch như ma.

Năm tháng học trò cứ thế trôi qua
Chợt boàng hoàng khi cành phượng đã nở
Hẹn gặp lại chẳng biết đến bao giờ
Ta trở về gặp lại những tuổi thơ.

Những tâm hồn bé nhỏ thích mộng mơ
Gửi cho nhau những lời hẹn câu chờ
Ôi sáng nay lòng ta buồn đến lạ
Nhớ sân trường thầy cô cũ sắp xa.

hoa Phượng - hoa học trò
sân trường năm đó

hoa phượng, trang giấy và tuổi trẻ

Ngày 18/01/2012
Lý viết trường
Khoa lịch sử. ĐH khoa học xã hội và nhân văn. ĐH QGHN

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

LỜI NHẮN NHỦ - GỬI TRUNG NGUYÊN BÙI CHÍNH

GỬI TRUNG NGUYÊN BÙI CHÍNH

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ…
Tôi đã từng nghe câu nói “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ…” và tôi cũng đã từng hiểu chữ “Duyên” không tự nhiên sinh ra và cũng chẳng tự nhiên mất đi. Thật vậy trong cuộc sống chẳng có cái gì tự nhiên đến rồi tự nhiên đi, tất cả nó điều do “Nhân quả” và “Duyên số” sắp đặt. Suốt thời gian qua tôi ngẫm lại càng thấy những điều trên rất đúng, mày gặp tao là do tạo hóa quyết định, nó cũng là chữ “Duyên” giữa những người bằng hữu vậy.
Chúng ta có cơ hội được gặp nhau, chơi với nhau, hiểu nhau rồi thân nhau nào đâu có phải dễ dàng gì, thời gian gần 2 năm vừa qua cũng đã nhiều lần thử thách tình bạn của chúng ta. Mày được cái tài hay nói dối, chưa bao giờ nói cái gì thật với tao cả, toàn do tao tự tìm hiểu và biết, cả cái nguyên nhân khiến mày lui về hậu trường gần 1 năm cũng là do tao tự biết qua nhiều cách khác nhau. Đã có nhiều lúc tao nghĩ mày chẳng coi tao là bạn, thật đấy !
Tuy nhiên sau khoảng thời gian dài tìm hiểu, nghĩ và nghĩ nhiều hơn thì những lý do đó đã không thể đủ để tao ghét mày, giờ đây tao nghĩ rằng: “Mày nói dối quen rồi, mà có nói dối mới phải là mày, nói dối có nghệ thuật, nói dối mà vẫn thật thà chân chất, nói dối kiểu nhà quê”.
Mày yên tâm đi, hữu duyên thì sẽ tương ngộ mày ạ. Thời buổi hiện nay như này có gì đâu mà lo, vài bữa bọn tao lại xuống nhà mày 1 lần ấy chứ, chỉ sợ nhà mày không tiếp thôi, mà nói trước bọn này ăn nhiều lắm, toàn người dân tộc, mạnh ăn mạnh nói thôi. Cứ chuẩn bị mà tiếp nhé.
Nói thế thôi năm sau mày sẽ trở lại, lúc đó mày sẽ lợi hại hơn bọn tao gấp nhiều lần. Khi trở lại nhớ trình làng không chỉ một mà nhiều công trình nghiên cứu mới về văn hóa dân gian mà mày hằng mơ ước nhé. Hãy nhớ rằng muốn làm được điều đó thì tâm mày phải vững, gan mày phải bền thì mới làm được, chứ gặp chút thất bại quay ra sa ngã, tiêu cực thì bọn tao khinh đó.
Muốn được như vậy giờ này mày hãy nhớ lấy điều này:

đã là bạn thì mãi chẳng quên
Tâm bình tĩnh thì tự nhiên khoan khoái, công minh…
Thật vậy, sau mỗi lần vấp ngã tâm người ta thường sẽ bất an, từ bất an sinh ra nhiều điều bất lợi thậm chí khiến con người ta trở nên tiêu cực. Tao nghĩ thời gian vừa rồi mày đã đấu tranh rất nhiều giữa lý trí và con tim, giữa thất vọng và niềm tin, giữa giận và thương… những cảm xúc đó âu cũng chỉ là chuyện thường tình mà ai cũng sẽ gặp thôi.
Tao đã từng trải qua những phút đau khổ tuy không giống trường hợp của mày nhưng chắc chắn nó cũng chẳng kém gì nỗi đau của mày, thật đó. Thế nhưng lúc đó tao đã vượt qua, tao đã gượng đứng lên để đi qua 3 kỳ thi gay go nhất trong cuộc đời, nhiều lúc tao nghĩ rằng lúc đó mà tao mềm yếu hơn dù chỉ một chút thôi thì có lẽ lúc này những dòng chữ này sẽ chẳng được bao giờ viết ra và chúng ta sẽ chẳng bao giờ có cơ hội làm bạn, âu cũng là duyên số.
Nói dông dài thế nhưng tựu chung lại cũng chỉ muốn nói rằng, tâm mày tĩnh thì lòng mày an, lòng có an thì đời mới vui được. Hãy nhìn mọi việc thoáng ra, thất bại là mẹ thành công đó, biết đâu thời gian 1 năm tới mày sẽ thu được rất nhiều lợi ích khác, thu thập tài liệu văn hóa chẳng hạn, không chừng sau một năm nữa khi mày trở lại tao lại phải học hỏi mày nhiều cũng nên.
Tạo sao tao lại nhắc mày cần tâm tĩnh trong lúc này ư, đơn giản bởi vì:

Than vãn, khóc lóc, u sầu giờ này chỉ làm mày thêm nhu nhược mà thôi…
Mày than vãn đi, than càng nhiều càng tốt nếu than vãn giúp mày bớt buồn và tăng thêm nghị lực. Nhưng nếu than vãn mà chẳng giải quyết được gì thì đó là một điều quá lãng phí trong thời điểm hiện nay.
Khóc ư, thật dễ dàng, tao chỉ cần nhớ lại những ngày tháng bên cha mẹ tao là tao có thể khóc, khóc một cách rất vô tư hoặc khóc một cách tức tưởi hận đời. Nói như thế nghĩa là khóc nhiều lúc cũng rất cần, nhưng khóc như thế nào, khóc xong rồi lau nước mắt đi và quyết tâm vươn lên thì những giọt những mắt bỏ ra sẽ không hề hoài phí, còn khóc xong rồi sợ, khóc xong thấy đời chỉ toàn một màu đen thẫm thì mày có khóc cả đời mọi chuyện cũng sẽ chẳng khá hơn mà thậm chí còn tồi tệ hơn.
Than vãn, khóc lóc, u sầu sẽ chẳng đem lại kết quả gì trong lúc này, việc đợn giản nhất mày nên làm và cần làm giờ này là hãy cười lên và nói: “Mọi chuyện thật quá bình thường, ngươi chẳng có thể khuất phục được ta đâu”. Nghĩ như thế thì mày sẽ vượt qua được tất cả, trí nhu nhược là mẹ của thất bại đó, hãy đá nó đi thật xa khỏi cuộc đời mình, hãy nhếch mép khinh thường nó…
Để làm được như thế cần có cái gì ư, mày có đang hỏi điều đó không, thật đơn giản:

Nếu có lòng can đảm thì chẳng có gì là khó khăn cả…
Lòng can đảm là cái qué gì thế ? Hẳn mày đang nghĩ tao viết văn vớ vẩn, mày đâu có ở trong hoàn cảnh của tao đâu mà mày hiểu ? Đừng có tỏ ra nguy hiểm ?
Xin thưa với mày rằng, thành tích học tập của tao khi kể ra đây mày sẽ phải sốc toàn tập luôn: Cấp I từ lớp 1 đến lớp 5 chưa bao giờ được giấy khen, duy nhất được một tờ cháu ngoan bác hồ năm lớp 5 và thường xuyên bị ghi vào sổ liên lạc, bị phạt trực nhật, bị nhốt ở lớp vì tội hay nói chuyện trong giờ, tội phá hoại và cứng đầu, lâu lâu lại đánh nhau một trận. Cấp II có khá khẩm hơn, bắt đầu được giấy khen và bớt nghịch hơn, nhưng cuối năm vẫn bị bắt đền vì ném đá vỡ kính lớp học… nhưng rồi tao đã thay đổi mày ạ, vì sao thay đổi tao sẽ tâm sự với chúng mày sau. Bằng này chứng cứ đã đủ để mày tin rằng tao đủ cơ sở để nói với mày lúc này chưa. Tin rằng là đủ đúng không.
Tiết lộ một chút, để chuyển từ một học sinh cá biệt thành một học sinh bình thường và dần dần thành học sinh gương mẫu nhất nhì lớp là nhờ lòng can đảm đó, can đảm đối mặt với sự thật, can đảm nhận lỗi và đặc biệt là can đảm để thay đổi… Còn mày nay đã rất tốt rồi, mày chẳng có gì cần phải nghĩ về tính cách nữa, điều mày cần lúc này là can đảm đối mặt với thực tại, với quảng thời gian 1 năm không ngắn mà cũng chẳng dài sắp tới mà thôi. Nói thật hãy cứ coi nó là một kỳ nghỉ dài có bài tập về nhà cần hoàn thành thế sẽ nhẹ nhõm hơn rất nhiều.
Và sẽ chẳng có gì có thể cấm cản ta cười để ta đi đến chân lý cả, sự thật:

Đời người không dài, cũng chẳng ngắn, nó chỉ là những khoảng lòng vòng…
Thật vậy, đời người ngắn chẳng tày gang, mới ngày nào mày với tao nhập trường, cùng làm cán bộ lớp, cùng học, cùng đọc sách, cùng nghiên cứu khoa học sinh viên và cùng gọi nhau những cái tên thật quá oách, tên gì nhỉ: Tao gọi mày là nhà văn hóa học GS. Trung Nguyên, còn mày gọi tao là nhà dân tộc học GS Lý Viết Trường, hai cái danh hiệu to ềnh oàng thế cơ mà đâu phải chuyện đùa đâu.
Đời người không dài nhưng cũng đủ để tao được nhờ mày nhiều việc lắm, nào là những buổi học thêm lớp chị Duyên nhờ mày đèo về KTX, nào là nhờ mày đèo sang bên nhà chú tao ở tận Thanh Trì lấy xe đạp giữa trời mưa đầu xuân lạnh buốt, nào là ngồi sau xe mày đi lòng vòng khắp Hà Nội, nào là những lần lẽo đẽo cùng chúng mày lên cầu Long Biên chụp ảnh, nào những lần đi mua sách trên Đinh Lễ, nào là và nào là… còn nhiều lần nào là lắm, nhưng có lẽ nào là nhiều nhất là nhờ mày giúp đỡ tao trong học tập.
Tính mày xuề xòa, tính tau thẳng thắn, mày dễ tính tao khó tính… rất nhiều điểm khác nhau nhưng cũng tìm được khá nhiều điểm chung ấy chứ, ví dụ như mày thích tìm hiểu văn hóa và tao cũng vậy, mày mê làm nghiên cứu khoa học tao cũng chẳng kém nhưng mà mày siêu hơn tao rồi, giải nhì cấp khoa chưa khao nhé, nhớ đấy, mày tóc bạc tao cũng thế, mày chưa có người yêu tao cũng ế lòi mắt đây.
Mày sắp xa bọn tao rồi, khoảng thời gian 1 năm sẽ trôi qua nhanh lắm, mấy cái lòng vòng là mày lại lên Hà Nội, tao mong rằng sau khi mày lên Hà Nội thì mày hãy chọn mặt gửi vàng, chọn khung gửi vải cho đúng nhé.
Sau khi lên Hà Nội dù có không học cùng nhau thì hãy luôn nhớ rằng chúng mình vẫn là bạn, nhóm Sử học trẻ Nhân văn vẫn chỉ có 4 thành viên, chỉ tiếc rằng nhóm mình vẫn chưa làm áo chung được, nhưng không sao cả, thời gian còn dài mà, lo gì mày nhỉ.
Sau khi mày đi rồi, lớp mình sẽ vắng đi một lớp phó học tập hay cười, bọn tao sẽ vắng đi một người bạn để nhờ vả… nhưng không sao, thời gian đâu thể xóa nhòa đi tất cả.

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở…
Hãy nhớ lấy điều này đó, Hà Nội mãi đón mày, chúng tao mãi đón mày, lúc nào cần hãy gọi cho tao và chúng tao, lúc nào… và tất nhiên chúng tao sẽ thường xuyên xuống nhà mày ăn vạ đó :P
Thôi cất bước ra đi nhẹ nhàng nhé, ra đi nhẹ nhàng để ngày trở lại sẽ mang theo một sức sống, một niềm tin và một động lực mới.
Chúc cho mày vài câu thơ :
Trăm năm trong cõi người ta
Hợp tan, tan hợp ấy là đương nhiên
Chỉ mong mong ở bạn hiền
Người đi hồn ở đừng quên câu này.
Chúng tao luôn nhớ đến mày
Dáng cao lểnh khểnh hao gầy sương mai
Du du thế sự lão lai
Trùng san tri ngại một hai sự đời.
                                         Hà nội, 13h40’, ngày 28/05,2014
                                                    Giữa hè năm Giáp Ngọ
                                                                       Lý Viết Trường

nhóm Sử học trẻ Nhân Văn mãi là của chúng ta
Trung Nguyên Bùi Chính năm nhất

TỤC ĐI LẤY ĐÁ SÁNG MÙNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI TÀY - NÙNG XÃ THẠCH ĐẠN - HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN

TỤC ĐI LẤY ĐÁ SÁNG MÙNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI TÀY - NÙNG XÃ THẠCH ĐẠN - HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN

Sáng mùng một tết khi ra suối lấy đá họ mang theo vài que hương, chút vàng mã và đôi thùng nhỏ đi ra bờ suối hoặc chiếc giếng đầu làng để lấy nước. Khi ra đến bờ suối trước khi lấy nước người ta sẽ cắm chân hương vào vàng mã và cắm xuống cạnh bờ suối, sau đó xin phép thần suối cho phép lấy nước về nhà. Sở dĩ khi đi lấy nước người Tày – Nùng phải mang theo hương và vàng mã là để xin phép thần suối cho lấy nước về nhà sinh hoạt, vàng mã tượng trưng cho lệ phí để đổi lấy nước, thể hiện sự trao đổi qua lại giữa con người và thần linh.  cùng với đó đồng bào sẽ mang theo cái lồng gà, lồng vịt để lấy đá về nhà, những hòn đá to nhỏ khác nhau này tượng trưng cho gia súc, gia cầm. Những hòn đá này bắt buộc phải là những hòn cuội ven suối, không được lấy hòn đá ngoài đường hoặc trên núi… vì những hòn đá ở suối được nước suối rửa sạch còn đá ở những chỗ khác có thể đã bị nhuốm bẩn.
Trên đường lấy đá về nhà đồng bào không thưa gửi, không hỏi đáp bất cứ ai, dù có gặp họ hàng, người quen, bạn bè, bởi lẽ đồng bào quan niệm nếu cất tiếng chào, gọi, hỏi, đáp, thưa người khác thì gia súc, gia cầm sẽ sợ và quay trở lại suối hoặc đi theo về nhà người mà mình thưa đó. Đồng thời với đó trên đường trở về họ sẽ phát ra những tiếng gọi gia súc, gia cầm về theo mình như: dú dú dú để gọi lợn, cú cú cú để gọi gà, hùi hùi để đuổi châu về nhà mình… khi mang về đến nhà người ta sẽ mang các hòn đá đó để vào chuồng lợn, gà, vịt, châu, bò, chỗ ở của chó, mèo… để cầu cho năm mới các con vật này sẽ lớn nhanh, khỏe mạnh và sinh sôi nảy nở nhiều như đá ở bờ suối.
Những hòn đá này sẽ nằm ở chuồng gia súc, gia cầm đến hết cuối năm khi chuẩn bị dọn dẹp đón mừng năm mới thì họ mới dọn nó đi, thường bà con sẽ để các hòn đá này vào một gốc cây nào đó và kiêng kỵ không được đổ rác hay thứ gì lên trên những hòn đá này. Bởi vì đồng bào quan niệm hòn đá cũng có linh hồn nếu xúc phạm hay làm cho hòn đá tức giận thì hòn đá sẽ trách phạt, có thể làm cho gia súc trong chuồng mà họ từng được đặt bị ốm hay thậm chí bị chết.
Tại sao người Tày – Nùng lại lấy đá chứ không phải vật khác, vì đá luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của lời người, đá dùng làm công cụ lao động như dao, cuốc, rìu… đá dùng để làm ra lửa, đá để làm nhà. Ngoài ra đá còn được đồng bào thờ như một vị thần bảo vệ gia súc , đá được đồng bào tin tưởng ký gửi vía của trẻ con khi đứa trẻ bị yếu vía .
Như vậy đây cũng là một tục lệ liên quan đến nghi lễ nông nghiệp cầu cho chăn nuôi thuận lợi, phát đạt, kinh tế phát triển.

Ảnh: Pai Cằm, nơi người Tày - Nùng thôn Nà Lẹng lấy đá đầu năm
Nguồn: Lý Viết Trường.
Lý Viết Trường LS

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

Ý NGHĨA HOA SEN TRONG ĐẠO PHẬT

Ý NGHĨA HOA SEN TRONG ĐẠO PHẬT
Lý Viết Trường
K57 Lịch sử, ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn, HN
Trong Phật giáo hình ảnh hoa sen thường chiếm vị trí quan trọng trong không gian thờ tự như chùa. Hoa sen gắn liền với hình ảnh Đức Phật ngồi tọa thiền hay đứng thuyết giảng trên tòa sen. Tại sao hoa sen lại gắn liền với Phật giáo và trở thành một trong những biểu tượng của Phật giáo, sở dĩ hoa sen được như vậy là nhờ những đặc tính tốt đẹp của nó.
Hoa sen là loài thực vật thủy sinh thuộc họ Nelumbonaceae, là loài thực vật có hoa. Người ta thường thấy hai loại sen chính đó là sen trắng và sen hồng, tuy nhiên trong ý nghĩa biểu tượng thì người ta thấy có nhiều loại sen với màu sắc khác nhau.
Theo quan niệm của dân gian thì hoa sen là biểu tượng của bộ phận sinh dục đàn bà, hoa sen mang yếu tố âm[1]. Ngoài ra cũng theo quan niệm dân gian thì hoa sen có nhiều đặc tính và biểu tượng khác nhau, cụ thể:
I. Hoa sen có những đặc tính[2] đặc biệt
1.     Tính không nhiễm
Loài sen thường mọc ở những nơi ẩm ướt và có nước như sông, ao, hồ, vũng nước… nhưng thân hoa không hề bị vướng bẩn bởi những thứ dơ bẩn của môi trường sung quanh.
Nó giống như người tu hành sống giữ trần tục phù du với biết bao nỗi khổ trên đời nhưng vẫn luôn giữ vững cái tâm trong sáng, vô thường vô ngã.
2.     Tính tinh khiết
Hoa sen có những đặc điểm rất đặc biệt, hoa của nó rất đẹp, thơm và quyến rũ nhưng không hề có một loài động vật có thể lại gần nó, dấy bẩn lên thân thể của nó, bởi lẽ trong nhị hoa sen có chất thanh trùng nên những loài động vật rất kỵ khi đến gần.
Nó cũng giống như đức hạnh của người tu hành, luôn lấy việc tích đức làm việc thiện làm chính nhưng không bao giờ cho phép bản thân phạm phải những sai lầm, vi phạm giáo lý nhà phật.

3.     Tính thanh trừng
Hoa sen có đặc điểm rất hay đó chính là tính khử, nơi nào có sen thì nước ở đó sẽ rất trong bởi lẽ hoa sen có tính khử và lọc nước. Vì vậy người ta thường nuôi sen ở trong ao, hồ… có lẽ là vì đặc tính này.
Nó cũng thể hiện ý nghĩa rằng nơi nào có phật thì nơi đó bình yên, giáo lý nhà phật sẽ soi sáng tâm hồn của những con người xung quanh. Giáo lý nhà phật sẽ cảm hóa những con người có tâm chưa sáng, hoàn lương bất ác… đó chính là một trong những nhiệm vụ của nhà phật.
4.     Tính tái sinh
Hoa sen cũng như một vài loài hoa khác thường sẽ tàn và lụi đi vào mùa đông, nhưng mùa xuân lại vươn lên mạnh mẽ. Nhiều hạt sen, củ sen có thể bị trôn vùi dưới đất trong môi trường thích hợp như yếm khí… nó có thể tồn tại được hàng trăm thậm chí cả ngàn năm, đến khi khơi ra sen vẫn vươn lên mạnh mẽ, điều này thể hiện sức sống dẻo dai trường tồn của sen.
Nó cũng phần nào nói lên hình ảnh những người tu sẵn sàng lùi bước nếu cần để bảo toàn thân thể chờ thời cơ thuận lợi để vươn lên, chứ không nhất thiết phải bon chen. Đó cũng là một quan niệm sống tốt đẹp của nhà phật.
5.     Tính thanh tao về hương vị
Hoa sen vừa có hương lại vừa có sắc. Hoa sen thường có 2 màu, màu trắng và màu hồng. Tuy nhiên hương sen thường thoang thoảng, dịu dàng chứ không nồng nặc, tạo cho con người có cảm giác an lành khi được ngửi và ngắm loài hoa này.
6.     Tính hành trực và ngẩu không
Thân thẳng, từ khi sinh ra thân sen đã mang một dánh hình thẳng. Trong ruột rỗng không, rổng không mà đứng vững, rỗng không mà vẫn vươn lên kiêu hãnh bất chấp sự đời.
Nó biểu hiện cho việc tu tâm sửa tính sao cho thật ngay thẳng, bỏ tà niệm tu tâm tích đức, từ bi hỷ xả, trong lòng luôn luôn thanh sạch, không mà có có mà không, đó là lẽ sống của nhà phật.
Đại diện cho những đức tính này là Di Lặc Bồ Tát, tên là Bồ tát Phật giáo, hay còn gọi là Từ Thị Bồ tát. Hình tượng của người ở trong viện Bát Diệp, Thai Tang dưới là: Tay trái để trước ngực, bàn tay xòa ra, tay phải cầm hoa sen, trên sen có hình báu, trên mũ báu có hình tháp báu… miệng người luôn mở rộng cười tươi, mạc áo phanh ngực hở bụng, người béo mập[3].
7.     Tính bồng thực
Hoa sen khi mới nở đã có gương, cá hạt. Đó là một điều đặc biệt nữa ở hoa sen. Nó thể hiện quy luật nhân quả trong phật giáo, giao nhân nào gặp quả nấy. Có nhân có quả hiện hữu.
8.     Tính hy sinh
Người ta thường dùng lá sen để gói cốm, dùng củ, hoa, lá non, thân sen để làm thức ăn, hạt sen ăn rất ngon… những bộ phật trên sen có thể dùng làm thức ăn.
Điều đó thể hiện tinh thần sẵn sàng hy sinh bản thân nếu cần, tinh thần vì người khác.
II.  Hoa sen có những ý nghĩa biểu tượng cụ thể
Mỗi màu hoa sen lại thể hiện một ý nghĩa biểu tượng khác nhau trong đạo phật, cụ thể:
1.     Sen trắng
Sen trắng tượng trưng cho sự thuần hóa của nhân tính, bồ đề tâm hay còn gọi là giác tâm, sen thường có 8 cánh en ứng với bát chính đạo. Nó đặc trưng của phái mật tông, là tòa sen của các vị phật.
2.     Sen đỏ
Sen đỏ là tượng trưng cho bản chất nguyên thủy của trái tim, là tâm hồn của phật, đạo phật luôn có một trái tim nhân ái thương người, từ bi hỷ xả.
3.     Sen xanh
Sen xanh là biểu tượng của trí tuệ, của sự lạc quan. Thực chất các nhà sư luôn được coi là những con người yên bác, thời Lý, Trần các nhà sư là những nhà bác học.
4.     Sen Hồng
Sen hồng là loài sen tối thượng, là loài sen tối cao, thường dành cho phật giáo nguyên thủy.
5.     Sen tím thẫm
Sen tím thẫm là màu của huyền diệu, biểu thị của phái mật tông.
Mỗi màu hoa đều giữ cho mình một ý nghĩa biểu tượng khác nhau.
III. Hoa sen trong kiến trúc phật giáo
Ngoài ra người ta còn hay bắt gặp những tòa sen, bông hoa sen, đóa hoa sen trong các ngôi chùa. Sen là mô típ trang trí chủ đạo trong chùa Việt, ngôi chùa nổi tiếng cho hình ảnh hoa sen đó là chùa Một Cột (Diên Hựu Tự), chùa một cột là một bông sen[4] khổng lồ của Phật giáo và của Việt Nam.
Ngoài ra hoa sen còn dùng để làm tòa, bệ đỡ của phật và dùng làm chân tảng cột chùa…
Hình tượng sen cùng được trang trí nhiều nơi trên các vật dụng sinh hoạt như đĩa, chén, ấm, thạp, chum…
Sen cũng đã đi vào ca dao dân tộc như:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông chắc lại chen nhị vàng…
Hay
Tháp mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên bác Hồ
Hay
Trên đời gì rẻ bằng bèo
Chờ khi nước lụt bèo trèo lên sen
Trên đời gì tốt bằng sen
Quan yêu dân chuộng, ra bèn như không…
IV. Kết luận
Hoa sen loài hoa mang trong mình biểu trưng của phật giáo, mang những phẩm chất tốt đẹp của phật giáo. Hoa sen sinh ra gắn liền với phật giáo vì vậy ngàn đời nay hoa sen luôn gắn liền và tồn tại cùng phật giáo Việt Nam.
Nhờ những đặc tính này mà hoa sen hoàn toàn xứng đáng được tôn vinh là quốc hoa.
L.V.T
Trang bìa tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 2, 2014
trang 27
trang 28
Bài viết đã đăng tại: http://phatgiao.org.vn/van-hoa/201403/Hoa-sen-loai-hoa-cua-Phat-giao-13944/




[1] Trần Lâm Biền, Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.2001, tr.250.
[2] Hoàng Văn Khoán, Khúc Thu Phương, Hoa Sen, Báo cáo khoa học khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2013.
[3] Lao Tử, Tịnh Lê  (cb), Từ điển Nho Phật Đạo, Nxb Văn học, 2001, tr.267.
[4] Chu Quang Trứ, Sáng giá chùa xưa mỹ thuật phật giáo, Nxb Mỹ thuật, 2012, tr.153.