Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

LỜI NHẮN NHỦ - GỬI TRUNG NGUYÊN BÙI CHÍNH

GỬI TRUNG NGUYÊN BÙI CHÍNH

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ…
Tôi đã từng nghe câu nói “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ…” và tôi cũng đã từng hiểu chữ “Duyên” không tự nhiên sinh ra và cũng chẳng tự nhiên mất đi. Thật vậy trong cuộc sống chẳng có cái gì tự nhiên đến rồi tự nhiên đi, tất cả nó điều do “Nhân quả” và “Duyên số” sắp đặt. Suốt thời gian qua tôi ngẫm lại càng thấy những điều trên rất đúng, mày gặp tao là do tạo hóa quyết định, nó cũng là chữ “Duyên” giữa những người bằng hữu vậy.
Chúng ta có cơ hội được gặp nhau, chơi với nhau, hiểu nhau rồi thân nhau nào đâu có phải dễ dàng gì, thời gian gần 2 năm vừa qua cũng đã nhiều lần thử thách tình bạn của chúng ta. Mày được cái tài hay nói dối, chưa bao giờ nói cái gì thật với tao cả, toàn do tao tự tìm hiểu và biết, cả cái nguyên nhân khiến mày lui về hậu trường gần 1 năm cũng là do tao tự biết qua nhiều cách khác nhau. Đã có nhiều lúc tao nghĩ mày chẳng coi tao là bạn, thật đấy !
Tuy nhiên sau khoảng thời gian dài tìm hiểu, nghĩ và nghĩ nhiều hơn thì những lý do đó đã không thể đủ để tao ghét mày, giờ đây tao nghĩ rằng: “Mày nói dối quen rồi, mà có nói dối mới phải là mày, nói dối có nghệ thuật, nói dối mà vẫn thật thà chân chất, nói dối kiểu nhà quê”.
Mày yên tâm đi, hữu duyên thì sẽ tương ngộ mày ạ. Thời buổi hiện nay như này có gì đâu mà lo, vài bữa bọn tao lại xuống nhà mày 1 lần ấy chứ, chỉ sợ nhà mày không tiếp thôi, mà nói trước bọn này ăn nhiều lắm, toàn người dân tộc, mạnh ăn mạnh nói thôi. Cứ chuẩn bị mà tiếp nhé.
Nói thế thôi năm sau mày sẽ trở lại, lúc đó mày sẽ lợi hại hơn bọn tao gấp nhiều lần. Khi trở lại nhớ trình làng không chỉ một mà nhiều công trình nghiên cứu mới về văn hóa dân gian mà mày hằng mơ ước nhé. Hãy nhớ rằng muốn làm được điều đó thì tâm mày phải vững, gan mày phải bền thì mới làm được, chứ gặp chút thất bại quay ra sa ngã, tiêu cực thì bọn tao khinh đó.
Muốn được như vậy giờ này mày hãy nhớ lấy điều này:

đã là bạn thì mãi chẳng quên
Tâm bình tĩnh thì tự nhiên khoan khoái, công minh…
Thật vậy, sau mỗi lần vấp ngã tâm người ta thường sẽ bất an, từ bất an sinh ra nhiều điều bất lợi thậm chí khiến con người ta trở nên tiêu cực. Tao nghĩ thời gian vừa rồi mày đã đấu tranh rất nhiều giữa lý trí và con tim, giữa thất vọng và niềm tin, giữa giận và thương… những cảm xúc đó âu cũng chỉ là chuyện thường tình mà ai cũng sẽ gặp thôi.
Tao đã từng trải qua những phút đau khổ tuy không giống trường hợp của mày nhưng chắc chắn nó cũng chẳng kém gì nỗi đau của mày, thật đó. Thế nhưng lúc đó tao đã vượt qua, tao đã gượng đứng lên để đi qua 3 kỳ thi gay go nhất trong cuộc đời, nhiều lúc tao nghĩ rằng lúc đó mà tao mềm yếu hơn dù chỉ một chút thôi thì có lẽ lúc này những dòng chữ này sẽ chẳng được bao giờ viết ra và chúng ta sẽ chẳng bao giờ có cơ hội làm bạn, âu cũng là duyên số.
Nói dông dài thế nhưng tựu chung lại cũng chỉ muốn nói rằng, tâm mày tĩnh thì lòng mày an, lòng có an thì đời mới vui được. Hãy nhìn mọi việc thoáng ra, thất bại là mẹ thành công đó, biết đâu thời gian 1 năm tới mày sẽ thu được rất nhiều lợi ích khác, thu thập tài liệu văn hóa chẳng hạn, không chừng sau một năm nữa khi mày trở lại tao lại phải học hỏi mày nhiều cũng nên.
Tạo sao tao lại nhắc mày cần tâm tĩnh trong lúc này ư, đơn giản bởi vì:

Than vãn, khóc lóc, u sầu giờ này chỉ làm mày thêm nhu nhược mà thôi…
Mày than vãn đi, than càng nhiều càng tốt nếu than vãn giúp mày bớt buồn và tăng thêm nghị lực. Nhưng nếu than vãn mà chẳng giải quyết được gì thì đó là một điều quá lãng phí trong thời điểm hiện nay.
Khóc ư, thật dễ dàng, tao chỉ cần nhớ lại những ngày tháng bên cha mẹ tao là tao có thể khóc, khóc một cách rất vô tư hoặc khóc một cách tức tưởi hận đời. Nói như thế nghĩa là khóc nhiều lúc cũng rất cần, nhưng khóc như thế nào, khóc xong rồi lau nước mắt đi và quyết tâm vươn lên thì những giọt những mắt bỏ ra sẽ không hề hoài phí, còn khóc xong rồi sợ, khóc xong thấy đời chỉ toàn một màu đen thẫm thì mày có khóc cả đời mọi chuyện cũng sẽ chẳng khá hơn mà thậm chí còn tồi tệ hơn.
Than vãn, khóc lóc, u sầu sẽ chẳng đem lại kết quả gì trong lúc này, việc đợn giản nhất mày nên làm và cần làm giờ này là hãy cười lên và nói: “Mọi chuyện thật quá bình thường, ngươi chẳng có thể khuất phục được ta đâu”. Nghĩ như thế thì mày sẽ vượt qua được tất cả, trí nhu nhược là mẹ của thất bại đó, hãy đá nó đi thật xa khỏi cuộc đời mình, hãy nhếch mép khinh thường nó…
Để làm được như thế cần có cái gì ư, mày có đang hỏi điều đó không, thật đơn giản:

Nếu có lòng can đảm thì chẳng có gì là khó khăn cả…
Lòng can đảm là cái qué gì thế ? Hẳn mày đang nghĩ tao viết văn vớ vẩn, mày đâu có ở trong hoàn cảnh của tao đâu mà mày hiểu ? Đừng có tỏ ra nguy hiểm ?
Xin thưa với mày rằng, thành tích học tập của tao khi kể ra đây mày sẽ phải sốc toàn tập luôn: Cấp I từ lớp 1 đến lớp 5 chưa bao giờ được giấy khen, duy nhất được một tờ cháu ngoan bác hồ năm lớp 5 và thường xuyên bị ghi vào sổ liên lạc, bị phạt trực nhật, bị nhốt ở lớp vì tội hay nói chuyện trong giờ, tội phá hoại và cứng đầu, lâu lâu lại đánh nhau một trận. Cấp II có khá khẩm hơn, bắt đầu được giấy khen và bớt nghịch hơn, nhưng cuối năm vẫn bị bắt đền vì ném đá vỡ kính lớp học… nhưng rồi tao đã thay đổi mày ạ, vì sao thay đổi tao sẽ tâm sự với chúng mày sau. Bằng này chứng cứ đã đủ để mày tin rằng tao đủ cơ sở để nói với mày lúc này chưa. Tin rằng là đủ đúng không.
Tiết lộ một chút, để chuyển từ một học sinh cá biệt thành một học sinh bình thường và dần dần thành học sinh gương mẫu nhất nhì lớp là nhờ lòng can đảm đó, can đảm đối mặt với sự thật, can đảm nhận lỗi và đặc biệt là can đảm để thay đổi… Còn mày nay đã rất tốt rồi, mày chẳng có gì cần phải nghĩ về tính cách nữa, điều mày cần lúc này là can đảm đối mặt với thực tại, với quảng thời gian 1 năm không ngắn mà cũng chẳng dài sắp tới mà thôi. Nói thật hãy cứ coi nó là một kỳ nghỉ dài có bài tập về nhà cần hoàn thành thế sẽ nhẹ nhõm hơn rất nhiều.
Và sẽ chẳng có gì có thể cấm cản ta cười để ta đi đến chân lý cả, sự thật:

Đời người không dài, cũng chẳng ngắn, nó chỉ là những khoảng lòng vòng…
Thật vậy, đời người ngắn chẳng tày gang, mới ngày nào mày với tao nhập trường, cùng làm cán bộ lớp, cùng học, cùng đọc sách, cùng nghiên cứu khoa học sinh viên và cùng gọi nhau những cái tên thật quá oách, tên gì nhỉ: Tao gọi mày là nhà văn hóa học GS. Trung Nguyên, còn mày gọi tao là nhà dân tộc học GS Lý Viết Trường, hai cái danh hiệu to ềnh oàng thế cơ mà đâu phải chuyện đùa đâu.
Đời người không dài nhưng cũng đủ để tao được nhờ mày nhiều việc lắm, nào là những buổi học thêm lớp chị Duyên nhờ mày đèo về KTX, nào là nhờ mày đèo sang bên nhà chú tao ở tận Thanh Trì lấy xe đạp giữa trời mưa đầu xuân lạnh buốt, nào là ngồi sau xe mày đi lòng vòng khắp Hà Nội, nào là những lần lẽo đẽo cùng chúng mày lên cầu Long Biên chụp ảnh, nào những lần đi mua sách trên Đinh Lễ, nào là và nào là… còn nhiều lần nào là lắm, nhưng có lẽ nào là nhiều nhất là nhờ mày giúp đỡ tao trong học tập.
Tính mày xuề xòa, tính tau thẳng thắn, mày dễ tính tao khó tính… rất nhiều điểm khác nhau nhưng cũng tìm được khá nhiều điểm chung ấy chứ, ví dụ như mày thích tìm hiểu văn hóa và tao cũng vậy, mày mê làm nghiên cứu khoa học tao cũng chẳng kém nhưng mà mày siêu hơn tao rồi, giải nhì cấp khoa chưa khao nhé, nhớ đấy, mày tóc bạc tao cũng thế, mày chưa có người yêu tao cũng ế lòi mắt đây.
Mày sắp xa bọn tao rồi, khoảng thời gian 1 năm sẽ trôi qua nhanh lắm, mấy cái lòng vòng là mày lại lên Hà Nội, tao mong rằng sau khi mày lên Hà Nội thì mày hãy chọn mặt gửi vàng, chọn khung gửi vải cho đúng nhé.
Sau khi lên Hà Nội dù có không học cùng nhau thì hãy luôn nhớ rằng chúng mình vẫn là bạn, nhóm Sử học trẻ Nhân văn vẫn chỉ có 4 thành viên, chỉ tiếc rằng nhóm mình vẫn chưa làm áo chung được, nhưng không sao cả, thời gian còn dài mà, lo gì mày nhỉ.
Sau khi mày đi rồi, lớp mình sẽ vắng đi một lớp phó học tập hay cười, bọn tao sẽ vắng đi một người bạn để nhờ vả… nhưng không sao, thời gian đâu thể xóa nhòa đi tất cả.

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở…
Hãy nhớ lấy điều này đó, Hà Nội mãi đón mày, chúng tao mãi đón mày, lúc nào cần hãy gọi cho tao và chúng tao, lúc nào… và tất nhiên chúng tao sẽ thường xuyên xuống nhà mày ăn vạ đó :P
Thôi cất bước ra đi nhẹ nhàng nhé, ra đi nhẹ nhàng để ngày trở lại sẽ mang theo một sức sống, một niềm tin và một động lực mới.
Chúc cho mày vài câu thơ :
Trăm năm trong cõi người ta
Hợp tan, tan hợp ấy là đương nhiên
Chỉ mong mong ở bạn hiền
Người đi hồn ở đừng quên câu này.
Chúng tao luôn nhớ đến mày
Dáng cao lểnh khểnh hao gầy sương mai
Du du thế sự lão lai
Trùng san tri ngại một hai sự đời.
                                         Hà nội, 13h40’, ngày 28/05,2014
                                                    Giữa hè năm Giáp Ngọ
                                                                       Lý Viết Trường

nhóm Sử học trẻ Nhân Văn mãi là của chúng ta
Trung Nguyên Bùi Chính năm nhất

TỤC ĐI LẤY ĐÁ SÁNG MÙNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI TÀY - NÙNG XÃ THẠCH ĐẠN - HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN

TỤC ĐI LẤY ĐÁ SÁNG MÙNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI TÀY - NÙNG XÃ THẠCH ĐẠN - HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN

Sáng mùng một tết khi ra suối lấy đá họ mang theo vài que hương, chút vàng mã và đôi thùng nhỏ đi ra bờ suối hoặc chiếc giếng đầu làng để lấy nước. Khi ra đến bờ suối trước khi lấy nước người ta sẽ cắm chân hương vào vàng mã và cắm xuống cạnh bờ suối, sau đó xin phép thần suối cho phép lấy nước về nhà. Sở dĩ khi đi lấy nước người Tày – Nùng phải mang theo hương và vàng mã là để xin phép thần suối cho lấy nước về nhà sinh hoạt, vàng mã tượng trưng cho lệ phí để đổi lấy nước, thể hiện sự trao đổi qua lại giữa con người và thần linh.  cùng với đó đồng bào sẽ mang theo cái lồng gà, lồng vịt để lấy đá về nhà, những hòn đá to nhỏ khác nhau này tượng trưng cho gia súc, gia cầm. Những hòn đá này bắt buộc phải là những hòn cuội ven suối, không được lấy hòn đá ngoài đường hoặc trên núi… vì những hòn đá ở suối được nước suối rửa sạch còn đá ở những chỗ khác có thể đã bị nhuốm bẩn.
Trên đường lấy đá về nhà đồng bào không thưa gửi, không hỏi đáp bất cứ ai, dù có gặp họ hàng, người quen, bạn bè, bởi lẽ đồng bào quan niệm nếu cất tiếng chào, gọi, hỏi, đáp, thưa người khác thì gia súc, gia cầm sẽ sợ và quay trở lại suối hoặc đi theo về nhà người mà mình thưa đó. Đồng thời với đó trên đường trở về họ sẽ phát ra những tiếng gọi gia súc, gia cầm về theo mình như: dú dú dú để gọi lợn, cú cú cú để gọi gà, hùi hùi để đuổi châu về nhà mình… khi mang về đến nhà người ta sẽ mang các hòn đá đó để vào chuồng lợn, gà, vịt, châu, bò, chỗ ở của chó, mèo… để cầu cho năm mới các con vật này sẽ lớn nhanh, khỏe mạnh và sinh sôi nảy nở nhiều như đá ở bờ suối.
Những hòn đá này sẽ nằm ở chuồng gia súc, gia cầm đến hết cuối năm khi chuẩn bị dọn dẹp đón mừng năm mới thì họ mới dọn nó đi, thường bà con sẽ để các hòn đá này vào một gốc cây nào đó và kiêng kỵ không được đổ rác hay thứ gì lên trên những hòn đá này. Bởi vì đồng bào quan niệm hòn đá cũng có linh hồn nếu xúc phạm hay làm cho hòn đá tức giận thì hòn đá sẽ trách phạt, có thể làm cho gia súc trong chuồng mà họ từng được đặt bị ốm hay thậm chí bị chết.
Tại sao người Tày – Nùng lại lấy đá chứ không phải vật khác, vì đá luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của lời người, đá dùng làm công cụ lao động như dao, cuốc, rìu… đá dùng để làm ra lửa, đá để làm nhà. Ngoài ra đá còn được đồng bào thờ như một vị thần bảo vệ gia súc , đá được đồng bào tin tưởng ký gửi vía của trẻ con khi đứa trẻ bị yếu vía .
Như vậy đây cũng là một tục lệ liên quan đến nghi lễ nông nghiệp cầu cho chăn nuôi thuận lợi, phát đạt, kinh tế phát triển.

Ảnh: Pai Cằm, nơi người Tày - Nùng thôn Nà Lẹng lấy đá đầu năm
Nguồn: Lý Viết Trường.
Lý Viết Trường LS

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

Ý NGHĨA HOA SEN TRONG ĐẠO PHẬT

Ý NGHĨA HOA SEN TRONG ĐẠO PHẬT
Lý Viết Trường
K57 Lịch sử, ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn, HN
Trong Phật giáo hình ảnh hoa sen thường chiếm vị trí quan trọng trong không gian thờ tự như chùa. Hoa sen gắn liền với hình ảnh Đức Phật ngồi tọa thiền hay đứng thuyết giảng trên tòa sen. Tại sao hoa sen lại gắn liền với Phật giáo và trở thành một trong những biểu tượng của Phật giáo, sở dĩ hoa sen được như vậy là nhờ những đặc tính tốt đẹp của nó.
Hoa sen là loài thực vật thủy sinh thuộc họ Nelumbonaceae, là loài thực vật có hoa. Người ta thường thấy hai loại sen chính đó là sen trắng và sen hồng, tuy nhiên trong ý nghĩa biểu tượng thì người ta thấy có nhiều loại sen với màu sắc khác nhau.
Theo quan niệm của dân gian thì hoa sen là biểu tượng của bộ phận sinh dục đàn bà, hoa sen mang yếu tố âm[1]. Ngoài ra cũng theo quan niệm dân gian thì hoa sen có nhiều đặc tính và biểu tượng khác nhau, cụ thể:
I. Hoa sen có những đặc tính[2] đặc biệt
1.     Tính không nhiễm
Loài sen thường mọc ở những nơi ẩm ướt và có nước như sông, ao, hồ, vũng nước… nhưng thân hoa không hề bị vướng bẩn bởi những thứ dơ bẩn của môi trường sung quanh.
Nó giống như người tu hành sống giữ trần tục phù du với biết bao nỗi khổ trên đời nhưng vẫn luôn giữ vững cái tâm trong sáng, vô thường vô ngã.
2.     Tính tinh khiết
Hoa sen có những đặc điểm rất đặc biệt, hoa của nó rất đẹp, thơm và quyến rũ nhưng không hề có một loài động vật có thể lại gần nó, dấy bẩn lên thân thể của nó, bởi lẽ trong nhị hoa sen có chất thanh trùng nên những loài động vật rất kỵ khi đến gần.
Nó cũng giống như đức hạnh của người tu hành, luôn lấy việc tích đức làm việc thiện làm chính nhưng không bao giờ cho phép bản thân phạm phải những sai lầm, vi phạm giáo lý nhà phật.

3.     Tính thanh trừng
Hoa sen có đặc điểm rất hay đó chính là tính khử, nơi nào có sen thì nước ở đó sẽ rất trong bởi lẽ hoa sen có tính khử và lọc nước. Vì vậy người ta thường nuôi sen ở trong ao, hồ… có lẽ là vì đặc tính này.
Nó cũng thể hiện ý nghĩa rằng nơi nào có phật thì nơi đó bình yên, giáo lý nhà phật sẽ soi sáng tâm hồn của những con người xung quanh. Giáo lý nhà phật sẽ cảm hóa những con người có tâm chưa sáng, hoàn lương bất ác… đó chính là một trong những nhiệm vụ của nhà phật.
4.     Tính tái sinh
Hoa sen cũng như một vài loài hoa khác thường sẽ tàn và lụi đi vào mùa đông, nhưng mùa xuân lại vươn lên mạnh mẽ. Nhiều hạt sen, củ sen có thể bị trôn vùi dưới đất trong môi trường thích hợp như yếm khí… nó có thể tồn tại được hàng trăm thậm chí cả ngàn năm, đến khi khơi ra sen vẫn vươn lên mạnh mẽ, điều này thể hiện sức sống dẻo dai trường tồn của sen.
Nó cũng phần nào nói lên hình ảnh những người tu sẵn sàng lùi bước nếu cần để bảo toàn thân thể chờ thời cơ thuận lợi để vươn lên, chứ không nhất thiết phải bon chen. Đó cũng là một quan niệm sống tốt đẹp của nhà phật.
5.     Tính thanh tao về hương vị
Hoa sen vừa có hương lại vừa có sắc. Hoa sen thường có 2 màu, màu trắng và màu hồng. Tuy nhiên hương sen thường thoang thoảng, dịu dàng chứ không nồng nặc, tạo cho con người có cảm giác an lành khi được ngửi và ngắm loài hoa này.
6.     Tính hành trực và ngẩu không
Thân thẳng, từ khi sinh ra thân sen đã mang một dánh hình thẳng. Trong ruột rỗng không, rổng không mà đứng vững, rỗng không mà vẫn vươn lên kiêu hãnh bất chấp sự đời.
Nó biểu hiện cho việc tu tâm sửa tính sao cho thật ngay thẳng, bỏ tà niệm tu tâm tích đức, từ bi hỷ xả, trong lòng luôn luôn thanh sạch, không mà có có mà không, đó là lẽ sống của nhà phật.
Đại diện cho những đức tính này là Di Lặc Bồ Tát, tên là Bồ tát Phật giáo, hay còn gọi là Từ Thị Bồ tát. Hình tượng của người ở trong viện Bát Diệp, Thai Tang dưới là: Tay trái để trước ngực, bàn tay xòa ra, tay phải cầm hoa sen, trên sen có hình báu, trên mũ báu có hình tháp báu… miệng người luôn mở rộng cười tươi, mạc áo phanh ngực hở bụng, người béo mập[3].
7.     Tính bồng thực
Hoa sen khi mới nở đã có gương, cá hạt. Đó là một điều đặc biệt nữa ở hoa sen. Nó thể hiện quy luật nhân quả trong phật giáo, giao nhân nào gặp quả nấy. Có nhân có quả hiện hữu.
8.     Tính hy sinh
Người ta thường dùng lá sen để gói cốm, dùng củ, hoa, lá non, thân sen để làm thức ăn, hạt sen ăn rất ngon… những bộ phật trên sen có thể dùng làm thức ăn.
Điều đó thể hiện tinh thần sẵn sàng hy sinh bản thân nếu cần, tinh thần vì người khác.
II.  Hoa sen có những ý nghĩa biểu tượng cụ thể
Mỗi màu hoa sen lại thể hiện một ý nghĩa biểu tượng khác nhau trong đạo phật, cụ thể:
1.     Sen trắng
Sen trắng tượng trưng cho sự thuần hóa của nhân tính, bồ đề tâm hay còn gọi là giác tâm, sen thường có 8 cánh en ứng với bát chính đạo. Nó đặc trưng của phái mật tông, là tòa sen của các vị phật.
2.     Sen đỏ
Sen đỏ là tượng trưng cho bản chất nguyên thủy của trái tim, là tâm hồn của phật, đạo phật luôn có một trái tim nhân ái thương người, từ bi hỷ xả.
3.     Sen xanh
Sen xanh là biểu tượng của trí tuệ, của sự lạc quan. Thực chất các nhà sư luôn được coi là những con người yên bác, thời Lý, Trần các nhà sư là những nhà bác học.
4.     Sen Hồng
Sen hồng là loài sen tối thượng, là loài sen tối cao, thường dành cho phật giáo nguyên thủy.
5.     Sen tím thẫm
Sen tím thẫm là màu của huyền diệu, biểu thị của phái mật tông.
Mỗi màu hoa đều giữ cho mình một ý nghĩa biểu tượng khác nhau.
III. Hoa sen trong kiến trúc phật giáo
Ngoài ra người ta còn hay bắt gặp những tòa sen, bông hoa sen, đóa hoa sen trong các ngôi chùa. Sen là mô típ trang trí chủ đạo trong chùa Việt, ngôi chùa nổi tiếng cho hình ảnh hoa sen đó là chùa Một Cột (Diên Hựu Tự), chùa một cột là một bông sen[4] khổng lồ của Phật giáo và của Việt Nam.
Ngoài ra hoa sen còn dùng để làm tòa, bệ đỡ của phật và dùng làm chân tảng cột chùa…
Hình tượng sen cùng được trang trí nhiều nơi trên các vật dụng sinh hoạt như đĩa, chén, ấm, thạp, chum…
Sen cũng đã đi vào ca dao dân tộc như:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông chắc lại chen nhị vàng…
Hay
Tháp mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên bác Hồ
Hay
Trên đời gì rẻ bằng bèo
Chờ khi nước lụt bèo trèo lên sen
Trên đời gì tốt bằng sen
Quan yêu dân chuộng, ra bèn như không…
IV. Kết luận
Hoa sen loài hoa mang trong mình biểu trưng của phật giáo, mang những phẩm chất tốt đẹp của phật giáo. Hoa sen sinh ra gắn liền với phật giáo vì vậy ngàn đời nay hoa sen luôn gắn liền và tồn tại cùng phật giáo Việt Nam.
Nhờ những đặc tính này mà hoa sen hoàn toàn xứng đáng được tôn vinh là quốc hoa.
L.V.T
Trang bìa tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 2, 2014
trang 27
trang 28
Bài viết đã đăng tại: http://phatgiao.org.vn/van-hoa/201403/Hoa-sen-loai-hoa-cua-Phat-giao-13944/




[1] Trần Lâm Biền, Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.2001, tr.250.
[2] Hoàng Văn Khoán, Khúc Thu Phương, Hoa Sen, Báo cáo khoa học khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2013.
[3] Lao Tử, Tịnh Lê  (cb), Từ điển Nho Phật Đạo, Nxb Văn học, 2001, tr.267.
[4] Chu Quang Trứ, Sáng giá chùa xưa mỹ thuật phật giáo, Nxb Mỹ thuật, 2012, tr.153.

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

HÀNH TRÌNH VỀ VỚI VĂN HÓA TÀY - NÙNG

HÀNH TRÌNH VỀ VỚI VĂN HÓA TÀY - NÙNG
Nhân dịp nghỉ lễ 30/04 – 01/05, này tôi nhận nhiệm vụ tìm hiểu vài nét trong nghi lễ tang ma của người Tày – Nùng từ người thầy của tôi GS. Hoàng Nam tôi chuẩn bị từ sớm và cùng thằng bạn cưỡi trên chiếc xe máy bò đi trên con đường Hà Nội – Cao Lộc – Hải Yến – Cao Lâu. Chuyến đi đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm ấn tượng về một bản người Tày - Nùng mang tên Cao Lâu.
1.     Chuẩn bị hành trang cho chuyến đi
Trước kỳ nghỉ lễ khoảng 10 ngày tôi có dịp vào nhà thầy tôi GS. Hoàng Nam một nhà nghiên cứu bậc nhất về văn hóa dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam hiện nay. Trong cuộc nói chuyện tôi chủ động gợi ý với thế về chủ đề tang ma của người Tày – Nùng Lạng Sơn có gì hay để nghiên cứu không thì thày liền giao ngay cho tôi nhiệm vụ: “Tìm hiểu xem lễ tế minh tinh với tế cây tiền của người Tày – Nùng giống hay khác nhau”. Tôi nhận lời không một chút ngần ngại vì nó đúng với sở thích của mình, tuy rất thích thú với nhiệm vụ nhưng tôi cũng không khỏi lo lắng vì đến giờ tôi vẫn chưa biết như thế nào là tế minh tinh còn tế cây tiền thì tôi đã từng chứng kiến nên cũng hiểu đôi chút.
Thế rồi tôi tìm kiếm các sách viết về đám ma của người Tày – Nùng, viết về thầy Tào, thầy mo của người Tày – Nùng, thật may mắn tôi đã tìm được cuốn luận án mà thày tôi nhắc đến của TS. Nguyễn Thị Ngân với chủ đề Tang ma của người Nùng Phàn Slình ở Thái Nguyên lưu tại thư viện trường tôi đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội. Trong tác phẩm này tác giả đồng nhất lễ tế minh tinh với tế cây tiền và dẫn giải những nghi lễ của tế cây tiền, điều này càng khiến tôi thêm mung lung. Tôi có gửi email cho thầy tôi mấy lần để hỏi cụ thể xem tế minh tinh là tế gì, thầy tôi cũng nói là chưa rõ lắm nhưng có thể tế minh tinh khác với tế cây tiền và động viên tôi cố gắng tìm hiểu cho rõ. Nhận được sự động viên của thầy, tôi đã bớt lo lắng phần nào.
Chẳng mấy chốc kỳ nghỉ lễ đã đến, tôi sách ba lô lên vai và cùng thằng bạn thân từ hồi cấp 1 tên Nông Quốc Cường lên đường về với bản Tày – Nùng nơi biên ải Xứ Lạng.
2.     Con đường về bản Tày – Nùng
Từ Hà Nội chúng tôi đi xe máy ngược lên hướng Đông Bắc theo con đường quốc lộ 1A nhằm hướng Lạng Sơn thẳng tiến. Trên đường từ Hà Nội lên Lạng Sơn đoạn qua Bắc Ninh và Bắc Giang chẳng có gì thú vị, hai bên đường toàn nhà cao tầng chẳng khác gì đang ở nội và ngoại thành Hà Nội.
Nhưng bắt đầu qua khỏi Bắc Giang để đi vào Lạng Sơn thì cảnh vật bỗng thay đổi một vòng kim đồng hồ, đang từ những ngôi nhà cao tầng với những cánh đồng thẳng tắp cò bay của Bắc Giang thì nay khi đến địa phận Lạng Sơn thì mọi chuyện đã thay đổi, những ngọn núi đá xanh ngút màu na hiện ra đầy sức sống. Nếu ai đó để ý quan sát sẽ phát hiện ra một điều khá thú vị đó là hai bên đường từ Chi Lăng đến Hữu Lũng một bên là núi đá, một bên là núi đất. Chẳng biết vì sao tạo hóa lại khéo léo sắp xếp đến vậy, có lẽ điều đó đã báo hiệu nhiều điều bất ngờ hơn nữa trên mảnh đất Xứ Lạng mà chúng tôi đang hướng đến.
Hai bên đường từ những ngôi nhà 2, 3 tầng cứ ngày một ít đi, qua khỏi Hữu Lũng thì những ngôi nhà tầng gần như mất hẳn mà thay vào đó là những ngôi nhà trình tường thấp lè tè nằm bên những mỏm đồi cạnh đường. Tôi để ý thấy người dân hai bên đường hâu như chủ yếu là người Nùng Phàn Slình, họ vẫn mặc áo truyền thống của dân tộc. Đây chính là bản thí, cư dân ở đây chủ yếu là người Tày – Nùng, họ sống dựa chủ yếu vào kinh tế nông nghiệp.
Xe chúng tôi tiếp tục chạy qua bản thí và một khung cảnh khác lại hiện ra một cách bất ngờ, chúng tôi đã đến Yên Trạch và Mai Pha. Hai xã này nằm gần thị thành phố Lạng Sơn nên kinh tế khá phát triển, những ngôi nhà tầng chiếm tỷ lệ đáng kể. người dân ở đây sống dựa vào nông nghiệp và buôn bán nên kinh tế cũng khá giả.
Chúng tôi ngồi nghỉ ở thị trấn Cao Lộc, sau gần 4 tiếng đồng hồ đi xe máy chúng tôi đã đói và thấm mệt. Chúng tôi vào một quán phở cạnh ngã ba Cao Lộc ăn, mới húp miếng đầu tiên mà chúng tôi đều xuýt xoa khen phở ở đây rất ngon, nó khác với phở Hà Nội, ở đây có phở xương, phở tái, phở gà… và nhất là có thêm món măng ớt để bàn cho dùng miễn phí. Chính món măng ớt đã để lại trong tôi một ấn tượng khá mạnh, nó có vị cay cay của ớt, vị hắc của măng, mùi thơm của quả mác mật. Tôi được biết măng ớt chính là một đặc sản của vùng đất Xứ Lạng.
Sau khi ăn xong bữa trưa xe chúng tôi lại nhằm theo hướng Hòa Cư – Hải Yến – Cao Lâu, chúng tôi được dự báo rằng đoạn đường này tuy chỉ dài hơn 20km nhưng sẽ là một thử thách khá khó với chúng tôi, bởi đoạn đường này nhỏ hẹp độ cua lớn và đã bị xuống cấp nghiêm trọng.
Dù được dự báo trước nhưng cũng không hề làm chúng tôi nao núng vì nhiệm vụ thầy giao cho tôi bắt buộc phải hoàn thành, vì niềm yêu thích khám phá trong tôi đã trỗi dậy từ thủa nào, nó thúc dục tôi mau đi để khám phá những điều kỳ lạ của xứ sở Tày – Nùng.
Thế rồi xe chúng tôi bò chậm chạp từng chút một trên con đường quanh co này, những ngôi nhà bé nhỏ nằm nép mình bên những ngọn đồi được phủ kín bởi màu xanh của vườn mận, vườn ngô. Dọc đường thi thoảng chúng tôi lại gặp một đám trẻ đang chăn trâu, nhìn bọn chúng hồn nhiên vui đùa cùng lũ bạn trẻ trâu mà tôi thấy thèm cảm giác được chơi, được sống gần gũi với thiên nhiên.
Thôn Hòa Cư để lại trong tôi ấn tượng mạnh về những ngọn đồi được đồng bào khai phá làm rẫy trồng ngô, những ngọn đồi thấp được bao bọc bởi màu xanh mơn mởn của vườn ngô trông thật đẹp.

Nương rẫy của đồng bào Tày – Nùng ở Hòa Cư
Sẽ có người phàn nàn: “Đây là phá rừng chứ tốt đẹp gì mà ca ngợi chứ” và tôi sẽ thưa như này thì bạn sẽ hiểu ngay thôi: “Những ngọn đồi này trên đỉnh vẫn trồng cây lâu năm và những nương rẫy này được làm theo kiểu bậc thang có tác dụng giữ đất rất tốt”. Tôi nhanh tay cầm lấy máy ảnh, vừa đi vừa chụp để lưu giữ lại những bức ảnh trên con đường vào bản Tày - Nùng.
Qua xã Hòa Cư chúng tôi đến với xã Hải Yến, một xã được nhiều người biết đến vì ở đây còn giữ được khá tốt phong tục tập quán của người Nùng. Tôi bắt gặp bên kia trên một cánh đồng có khoảng gần chục người đang cấy, điều này khiến tôi nhớ đến tục trợ giúp nhau trong ngày mùa của người Nùng, đây là một phong tục tốt đẹp không những có tác dụng về kinh tế mà còn có tác dụng trong việc xây dựng tình đoàn kết hàng xóm láng giềng.
Hai bên đường tôi cũng bắt gặp một cảnh tượng rất thi vị, đó là cảnh hai tốp người đang cấy ở hai cánh đồng bên suối đang hát sli lượn đối đáp với nhau, những câu sli ngày mùa giúp cho đồng bào quên đi mệt mỏi. Đã có thời những câu sli có nguy cơ mai một nhưng mấy năm gần đây cùng với sự quan tâm của các cấp có chính quyền nhất là sở văn hóa nên những câu sli đã lại xuất hiện nhiều hơn trên bản làng của người Nùng Phàn Slình ở Hải Yến.
Hải Yến còn nổi tiếng với tục múa sư tử, tục múa sư tử thế hiện tinh thần thượng võ của đồng bào Tày – Nùng được hình thành trong quá trình lịch sử chống giặc ngoại xâm và đánh phỉ giữ bình yên cho bản làng. Đồng bào quan niệm nơi nào có tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng là và chũm chọe thì nơi đó sẽ bình yên và làm ăn thuận lợi. Cũng có lúc múa sư tử tưởng chừng không còn ai thích thú, nhưng hiện nay có hội thi múa sư tử nên xã đã quan tâm phục hồi lại được rất nhiều trò diễn cổ như: nhảy bàn, nhảy lửa, báo đông, nả lình…
Đích đến cuối cùng của chúng tôi chính là thôn bản Vàng, xã Cao Lâu. Cuối cùng con đường vòng vèo, đầy ổ gà cũng lùi lại đằng sau và thôn bản Vàng đã hiện ra trước mắt chúng tôi. Thoạt đầu chúng tôi thấy hình như thôn bản Vàng vẫn còn lác đác mấy ngôi nhà trình tường xen giữa những ngôi nhà gạch kiên cố, nhà trình tường là một công trình nghệ thuật thể hiện tình độ sáng tạo và tư duy thích ứng với thiên nhiên nhạy bén của đồng bào.
Ngôi nhà chúng tôi tìm đến là nhà ông Hoàng Minh Kai cựu chiến binh đã từng tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường miền Nam. Nhà ông nằm ngay trên đường cái, ông đón tôi với nụ cười trên môi và mời chúng tôi vào nhà như gặp lại người bạn tri kỷ. Vào đến nhà ông liền rót ly rượu ra mời chúng tôi, người Tày – Nùng rất hiếu khách, khi nhà có khách vào thăm, không kể là ai họ đều rất niềm nở đón tiếp. Uống xong ngụm nước ông mới từ từ hỏi, các cháu hôm nay vào đây tìm ai, tôi trình bày lý do hôm nay đến với mong muốn tìm gặp ông thầy Tào ở thôn này, nghe đến đây ông trả lời nhanh: “Ông ấy tên Hoàng Kim Toàn là người thân của ông, nhà ngay dưới này, các cháu cứ uống nước đã rồi tí ông sẽ nhờ Hoàng Minh Đức dẫn xuống, yên tâm đi”. Được lời như cởi tấm lòng, chúng tôi mở lời nhờ ông dẫn xuống nhà ông Toàn.

Cuộc nói chuyện về văn hóa Tày - Nùng
Ông Đức dẫn chúng tôi xuống nhà ông Toàn. Khi chúng tôi vừa bước vào nhà ông Toàn liền mời chúng tôi ngồi xuống ghế, pha chè và hỏi ngay: “Các cháu tìm ông có chuyện gì, nói xem ông có giúp được gì không”. Ông Đức nhanh miệng nói giúp chúng tôi: “Các cháu hiện tại đang là sinh viên có mong muốn tìm hiểu một vài điều liên quan đến nghi lễ tang ma của người Tày mình, tôi biết ông nắm rõ cái này, ông cố gắng giúp các cháu với nhé”, vốn tính thân thiện ông Toàn cười nói: “Các cháu là sinh viên có lòng đam mê văn hóa dân tộc như thế thì ông sẽ giúp đỡ nhiệt tình, chỉ bảo những gì ông biết, chỉ bảo các cháu cũng là trách nhiệm của ông trong việc giữ gìn phong tục tập quán của người Tày mình mà”.
Được các cụ tạo điều kiện tôi liền vào ngay mục đích, tôi hỏi ông năm nay bao nhiêu tuổi, số năm làm thầy Tào là bao nhiêu… rồi hỏi ông trong nghi lễ tang ma lễ tế minh tinh là gì, lễ tế cây tiền là gì, giữa hai nghi lễ này giống hay khác nhau về nội dung hay ý nghĩa không ? Tiếp đó ông Toàn cùng ông Đức chia sẻ với chúng tôi rằng hiện nay ở xã Cao Lâu những nét văn hóa đã mất dần vì lớp trẻ không còn thiết tha với văn hóa cha ông. Ông Toàn nói rằng hiện nay ông muốn thu nhận “Đệ tử” để truyền nghề làm tào, ông than: “Nếu cứ kiểu này chẳng bao lâu nữa nghề làm tào sẽ thiếu người làm, bởi nhiều người có căn tào cũng không chịu học nghề”. Cùng với nghề tào thì các làn điệu dân ca cổ như hát then, sli, hát lượn, hát cỏ lảu, phát sỏi, múa sư tử… đã ít khi xuất hiện trên bản làng người Tày – Nùng, hiện nay chỉ còn một ít lớp người ở lứa tuổi trung niên và người già.
Câu chuyện giữa tôi và ông Toàn kéo dài gần 3 tiếng, những thắc mắc của tôi đã cơ bản được giải quyết. Chia tay ông mà lòng tôi thầm vui mừng vì nhiệm vụ của thầy giao cho đã được hoàn thành.

Quyển sổ ghi chép nghi lễ thực hiện trong đám tang của thày Tào người Tày
3.     Một vài suy nghĩ
Một chuyến đi đã để lại cho tôi rất nhiều điều bất ngờ và kỷ niệm đẹp, đồng bào Tày – Nùng ở đây rất nhiệt tình và niềm nở đón tiếp khách đến chơi. Mặc dù cuộc sống nơi đây còn rất nghèo, đa số đồng bào nơi đây vẫn ở nhà trình tường và một số ít ở nhà bê tông nhưng họ vẫn sẵ sàng dành cho khách những thứ ngon nhất.
Các bản làng hiện nay vẫn còn giữ được khá nhiều nét văn hóa cổ truyền như ma chay, cười xin, lễ hội… những người trung niên vẫn mặc quần áo truyền thống. Tuy nhiên thế hệ trẻ hiện nay có phần nào thờ ơ với văn hóa truyền thống, họ chưa hiểu được hết những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.
Thiết nghĩ trách nhiệm tuyên truyền phổ biến và giáo dục cho thế hệ trẻ nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa dân tộc thuộc về cơ quan có thẩm quyền và những người hiểu biết. Hiện nay sở văn hóa tỉnh đã có một vài chính sách quan tâm đến lưu giữ và phát huy văn hóa tuy nhiên vẫn còn quá nhỏ và chưa thực hiện rộng rãi, hình thức còn đơn điệu nên không thu hút được sự quan tâm của giới trẻ.

Nhờ những chuyến đi thực tế như chuyến đi ngày hôm nay đã giúp tôi hiểu hơn được văn hóa của các dân tộc nhất là văn hóa Tày – Nùng, những mảnh đất mà tôi đi qua luôn nồng nhiệt đón khách và những con người tôi gặp vẫn luôn mang trong mình niềm say mê với vốn văn hóa cổ. Chính họ là những người tiên phong trong công việc bảo tồn văn hóa nếu được tạo điều kiện và chỉ bảo phương pháp từ cơ quan chức năng.
Lý Viết Trường
Lạng Sơn, Ngày 02/05/2014

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

PGS.TSKH. NGUYỄN HẢI KẾ TRONG KÝ ỨC KHOA LỊCH SỬ

PGS.TSKH. NGUYỄN HẢI KẾ

TRONG KÝ ỨC KHOA LỊCH SỬ

NHÓM SỬ HỌC TRẺ NHÂN VĂN
Các bạn đang cầm trên tay tác phẩm đầu tay của nhóm Sử học trẻ Nhân văn chúng tôi. Nhằm hưởng ứng cuộc thi Nhân văn trong tôi do đoàn trường đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn phát động, cùng với tấm lòng hiếu kính trước một người Thầy, một nhân cách lớn nên chúng tôi đã quyết định tham gia chương trình. Tác phẩm có cái tên gọi rất đỗi giản gị Thầy Nguyễn Hải Kế trong ký ức khoa lịch Sử, bài viết là tình cảm từ tận đáy lòng của nhóm dành cho người Thầy đáng kính.
Thầy Nguyễn Hải Kế là một người sống trong nỗi nhớ người khác, Thầy luôn hết mình với sinh viên, tận tình với đồng nghiệp, hiếu kính với các bậc Thầy lừng danh của mình. Dù ở cương vị nhà sử học, nhà giáo, hay người dân bình thường… thì Thầy vẫn luôn sống “Hiên ngang” với đời, vẫn luôn nghênh ngang đi dưới trời dẫu cho sóng gió cuộc đời xô đẩy. Có người đã nói với tôi rằng Thầy Nguyễn Hải Kế cả một đời sống vì người khác, nghĩ cho người khác, lo cái lo cho người khác… vì vậy bất cứ một người nào có cơ hội tiếp xúc với Thầy đều nhận xét rằng “Đó là một con người dễ gần, tận tình và tốt”.
Vì những lẽ đó mà người đi theo Thầy rất đông, họ đi theo Thầy vì họ kính Thầy, họ ngưỡng mộ một tri thức uyên thâm nhưng khi bên Thầy thì họ lại có một cảm giác gần gũi như một người “Nông dân xịn”. Khi Thầy lâm bệnh nặng, lớp lớp sinh viên đến bên chăm sóc Thầy tận tình, họ cầu nguyện cho Thầy… những tình cảm đó sao thật đáng làm người ta trân trọng giữa cuộc đời bon chen, xô bồ này. Phút giây Thầy ra về với thế giới vĩnh hằng đã có biết bao người cúi đầu rơi nước mắt xót thương, rồi họ đến bên linh cữu của Thầy và ngậm ngùi xót xa cho số phận con người tài hoa bạc mệnh, “Cứ cho là tử bất kỳ / Trời xanh kia chẳng ra gì bác ơi / Không thương người tốt ở đời / Thì đem xé quách cho rồi… trời xanh[1] và như để nói với Thầy lời chào, lời hứa sẽ cùng nhau dựng xây tương lai sử học nước rạng danh nhà như Thầy hằng mong muốn, “Trăm năm trong cõi người ta / Con đường sử học quả là khó thay / Trăm người hội tụ chốn này / Chung tay góp sức dựng xây sử nhà”.
Với những tình cảm thành kính và biết ơn đó nên chúng tôi đã quyết định viết về Thầy để thay lời tri ân dành cho Thầy. Nội dung tác phẩm gồm 3 phần chính, cụ thể:
-         Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Thầy Nguyễn Hải Kế. Phần này chúng tôi giới thiệu hai mục chính: Thứ nhất là vài nét về cuộc đời Thầy từ khi sinh ra, lớn lên, trưởng thành và đến khi mất. Thứ hai là vài nét về sự nghiệp của nhà sư học Nguyễn Hải Kế.
-         Thầy Nguyễn Hải Kế với khoa Lịch Sử. Phần này chúng tôi chia làm hai mục chính. Phần một là những đóng góp của Thầy trên cương vị là một nhà nghiên cứu lịch sử, với cương vị là một vị trưởng khoa. Phần hai là hình ảnh của Thầy trong ký ức khoa lịch sử.
-         Những bài viết Thầy Nguyễn Hải Kế. Phần này chúng tôi xin được giới thiệu các bài viết của các tác giả là bạn, là học trò của Thầy viết về Thầy được đăng trên các tạp chí và báo thay cho lời kết.
Nội dung tác phẩm này được hoàn thành với sự tham gia nhiệt tình của tất cả các thành viên nhóm Sử học trẻ Nhân văn. Nhóm được thành lập ngày 18/011/2013, do Lý Viết Trường làm trưởng nhóm cùng với sự tham gia tự nguyện của các bạn Vàng A Cử, Bùi Văn Chính, Lê Đinh Cường, đều là sinh viên K57 lịch sử. Nhóm thành lập với mục đích giúp đỡ nhau trong học tập và tập nghiên cứu khoa học.
Tác phẩm Thầy Nguyễn Hải Kế trong ký ức khoa lịch Sử là đứa con tinh thần, là tác phẩm đầu tay của nhóm nên chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu xót. Mong được các bậc tiền bối, các bậc bằng hữu chỉ bảo.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
Hà Nội, ngày 8 tháng 2 năm Giáp Ngọ
Thay mặt nhóm Sử học trẻ Nhân văn
               Lý Viết Trường
1.     Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Thầy Nguyễn Hải Kế
1.1.         Cuộc đời Thầy Nguyễn Hải Kế
Thầy Nguyễn Hải Kế sinh ngày 10 tháng 3 năm 1954 tại thôn Cao Hải, xã Tân Liên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng trong một gia đình nhà giáo có truyền thống yêu nước và cách mạng. Chính những truyền thống tốt đẹp của gia đình cùng những năm tháng tuổi thơ sống và vui đùa cùng lũ bạn đã tạo nên một cậu bé Nguyễn Hải Kế một tâm hồn phóng khoáng, chính trực và giàu tình thương với bạn bè, đồng loại.
Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống học hành, suốt thời học phổ thông cậu thanh niên Nguyễn Hải Kế luôn đạt thành tích giỏi và xuất sắc. Với kết quả học tập như vậy, sau khi kết thúc chương trình học tập phổ thông tại Hải Phòng, năm 1970, chàng thanh niên Nguyễn Hải Kế thi đỗ đại học và trở thành sinh viên của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Trong suốt quá trình học cậu sinh viên Nguyễn Hải Kế luôn tỏ ra mình là một người đam mê và ham học hỏi, so với các bạn đồng nghiệp cùng trang lứa chàng sinh viên Nguyễn Hải Kế đến với sự một cách tự nguyện.
Do có thành tích học tập xuất sắc, sau khi tốt nghiệp đại học vào năm 1975, Thầy được Nhà trường và Khoa Lịch sử phân công ở lại làm giảng viên tại Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại. Từ đây chàng sinh viên Nguyễn Hải Kế đã chính thức đem thân mình gắn vào nghiệp sử, gắn với nghề giáo để rồi sau này khi “Tiến” khi “Đạt” vẫn một lòng gắn bó với nghiệp trống người, quyết không bỏ nghề giáo mà đi.
Ngoài công tác chuyên môn từ cuối thập kỉ 70 đến đầu thập kỉ 80, Anh Nguyễn Hải Kế lần lượt là người đứng đầu Liên chi Đoàn Khoa Lịch sử, rồi làm Bí thư Đoàn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tham gia Ban chấp hành Thành Đoàn và là Đảng uỷ viên trẻ nhất trong Đảng uỷ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhờ bản tính năng động, sáng tạo và vai trò lãnh đạo của Bí thư Nguyễn Hải Kế, phong trào học tập, nghiên cứu và các hoạt động xã hội của tuổi trẻ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội luôn dẫn đầu trong khối các trường đại học cao đẳng của Thành phố và cả nước lúc bấy giờ.
Quá trình làm đoàn Thầy học được rất nhiều thứ, những bài học có cả cay đắng và ngọt bùi. Thầy tâm sự với bạn tôi (Lý Viết Trường) trong một lần ngồi ở ghế đá nhà A đợi xe về quê rằng: “Nhờ làm đoàn mà tôi dám đứng trước đám đông bày tỏ và bảo vệ quan điểm của mình, một con người dám nói ra là một con người dám sống thật với chính mình, mà cậu thử ngẫm mà xem trên đời này có mấy ai được sống thật với chính mình làm đâu”[2].
Những hoạt động đoàn đang hăng say thì năm 1987, gác lại giảng đường đại học và các hoạt động đoàn sôi nổi, sau nhiều gian lao và cống hiến, Thầy Nguyễn Hải Kế được Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội cử sang Liên Xô học nghiên cứu sinh. Sau nhiều năm học tập, nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, nhờ được sự hướng dẫn và giúp đỡ của nhiều nhà Việt Nam học hàng đầu của Liên Xô và nước Nga trong đó có Giáo sư Dega Deopik, Thầy đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ rồi Tiến sĩ Khoa học lịch sử.
Trong làn xuống thăm đoàn thực tập của chúng tôi tại Kim Chung – Lai Xá – Hà Nội, Thầy từng chia sẻ: Quá trình học tập và làm việc tại Liên Xô những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 quả thật không hề dễ dàng gì, thời buổi lúc đó quan hệ Việt Nam và Liên Xô – Nga đang có những biến đổi theo chiều hướng xấu, người dân họ chẳng có cảm tình gì với người Việt, nhưng bằng sự trân tình và trí cầu tiền của mình nên Thầy đã nhận được sự giúp đỡ tích cực của các bạn sinh viên và giảng viên đại học trong đó có Giáo sư Dega Deopik. Nhờ những kinh nghiệm thu được trong thời gian này nên khi về nhà Thầy đã áp dụng vào thực tế Việt Nam góp phần chung tay khẳng định uy tín của trường phái Sử học tổng hợp.
Năm 1996, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Hải Kế rời Liên Xô trở lại mái trường xưa, tiếp tục cùng với các Thầy cô, bạn bè đồng nghiệp xây dựng và phát triển Khoa Lịch sử. Thầy vừa dạy cổ sử, vừa cùng với cố Giáo sư Trần Quốc Vượng và một số chuyên gia hàng đầu của Khoa từng bước xây dựng và hình thành một chuyên ngành đào tạo mới là Lịch sử văn hoá Việt Nam để đáp ứng yêu cầu xã hội. Trong lĩnh vực khoa học mới này, niềm đam mê và năng lực sáng tạo khoa học của Thầy càng được nhân lên và toả sáng.
Trong các bài giảng dành cho sinh viên và học viên cao học của Khoa Sử và nhiều khoa khác ở trong và ngoài trường, nhà khoa học Nguyễn Hải Kế luôn có những tìm tòi phát hiện mới, thể hiện sâu đậm dấu ấn cá nhân. Từ di sản lịch sử – văn hoá truyền thống, những biến đổi trong thời cận – hiện đại, những thách thức đặt ra hiện nay trên con đường xây dựng một nền văn hoá Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, Thầy luôn trăn trở, đau đáu nghĩ suy về việc kế thừa và phát huy những giá trị cội nguồn của văn hoá dân tộc, với những tiếp biến và giao lưu văn hoá, với nguyên lí Mẹ, những sắc thái đa dạng của các lớp văn hoá, các vùng và không gian văn hoá của một nền văn hoá Việt Nam giàu giá trị nhân văn và thống nhất.
Nhờ những bài giảng lôi cuốn và những trang giáo án soạn với cả tri thức và lòng đam mê nên Thầy Nguyễn Hải Kế đã truyền lửa nhiệt tình đến biết bao nhiêu thế hệ sinh viên, học viên.
1.2.         Sự nghiệp Thầy Nguyễn Hải Kế
Khi nhắc đến vai trò của Thầy Nguyễn Hải Kế ắt hẳn trong mỗi chúng ta ai cũng đã nghĩ đến ngạn ngữ: “Một người Thầy tốt như một ngọn nến ngọn nến cháy để soi đường cho những người khác” của Mustafa Kernal Ataturk. Và khi nhắc đến sự ra đi của Thầy Nguyễn Hải Kế người ta lại nhớ đến đôi dòng thơ cổ vô danh này.
,
, [3]
Phiên âm
Chi chi ngũ bách niên tiền, lục thụ thanh sơn hà xứ tại
Tại tại sổ thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chi
Dịch nghĩa:
Đâu đâu khoảng trước năm trăm năm, cây xanh núi biếc nào chốn ấy?
Ấy ấy chừng ngoài ba ngàn dặm, đào hoa lưu thủy Thầy về đâu!
Thầy Nguyễn Hải Kế một người Thầy mà có lẽ trong tâm tưởng các thế hệ sinh viên Trường ĐHKHXH&NV nói trung và các thế hệ sinh viên khoa sử nói riêng có một sự kính trọng mà khó có thể dùng từ nào miêu tả hay cân đo đong đếm hết. một người Thầy nhân, chí, dũng vẹn toàn. Một người Thầy dành cả đời mình cho nghiệp trồng người.
Thầy kế tốt nghiệp Trường phổ thông cấp III Ngô Quyền danh tiếng của thành phố Hải Phòng. Thầy trở thành sinh viên khóa 15 Trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội nay là trường Đại học KHXH& NV Đại học Quốc Gia Hà Nội. Theo học nghành lịch sử Việt Nam cổ trung được các Thầy cô bộ môn dạy dỗ, kèm cặp, truyền trao kinh nghiệm và niềm đam mê cháy bỏng. Ra trường với tấm bằng xuất sắc Thầy trở thành giảng viên giảng dạy bộ môn lịch sử Việt Nam cổ trung và gắn bó với khoa lịch sử, với nghề làm sử, nghề làm Thầy giáo sử từ ấy.
Năm 1987 Thầy được sang Liên Xô học tập làm luận án tiến sĩ rồi tiến sĩ, sau 9 năm học tập ở Liên Xô Thầy về nước năm 1996. Sau hai năm tới năm 1998 Thầy cùng ban lãnh đạo khoa lịch sử xây dựng bộ môn văn hóa lịch sử Việt Nam (nay đổi thành văn hóa học và lịch sử văn hóa Việt Nam). Từ đấy, trên nền tảng kiến thức vững chắc về lịch sử Việt Nam, nhất là về thời kì cổ đại và trung đại, Thầy say mê tìm hiểu, khám phá những khía cạnh của đời sống văn hoá dân tộc, từ truyền thống để thức nhận cái hiện tại hay giải mã cái hiện tại từ biện chứng của truyền thống. Mười lăm năm nỗ lực hết mình, Thầy cùng các đồng nghiệp, học trò đã làm nên một chuyên ngành đào tạo chững chạc, có uy tín và thu hút đông đảo sinh viên ngành Lịch sử theo học, được xã hội thừa thừa nhận, chấp nhận và đánh giá cao.
Thầy, một người mà cả cuộc đời mình gắn bó với khoa Lịch Sử. đối với không ít người theo nghiệp sử đã khó mà gắn với nghiệp sử thì lại càng khó hơn nhưng với Thầy Nguyễn Hải Kế việc đến với sử là hoàn toàn tự nguyện, đến với nghiệp sử là một niềm đam mê cháy bỏng, Thầy có thể say sưa nói hàng giờ về một chủ đề nào đó, chuyển bài giảng của mình thành những bài thơ bài hát. Thầy luôn là niềm cảm hứng truyền tình yêu mãnh liệt sử đối với sinh viên. Ngoài cương vị là một người Thầy truyền kiến thức sự hiểu biết của mình cho sinh viên Thầy còn là một người cha, luôn quan tâm chia sẻ những chuyện buồn vui trong cuộc sống, luôn quan tâm giúp đỡ sinh viên đặc biết là những bạn sinh viên có hoành cảnh khó khăn.
Với cương vị là Chủ nhiệm Khoa từ năm 2004, Thầy vững lái con thuyền Khoa Lịch sử ở vào thời điểm nhiều khó khăn khi lớp các Thầy cô lẫy lừng lần lượt nghỉ hưu hay nhiều anh em bạn bè trang lứa chuyển sang đơn vị công tác khác. Một thế hệ cán bộ sinh từ nửa sau thập niên bẩy mươi mà nay đã chiếm tới gần hai phần ba Khoa Lịch sử được Thầy chăm chút đã trưởng thành, từng bước và đủ sức tiếp nối sứ mệnh, uy tín, danh tiếng của một đơn vị đào tạo và nghiên cứu sử học hàng đầu của cả nước.
Một người Thầy “Một người cha mẫu mực” của bao thế hệ sinh viên khoa Lịch sử. Một người mà dành cả cuộc đời mình vun đắp tình yêu sử, gieo vào lòng bao lớp sinh viên tình yêu mãnh liệt với Lịch sử, say sưa nói hàng giờ về Lịch sử mà không hề biết chán.
Thầy chọn đời với nghề giáo. Thầy vẫn nói Thầy thích lắm nghề làm Thầy giáo, mặc dù Thầy cũng lại nói: “Với đông đảo những người đầu tư vào việc đi học, đi thi, để chọn ngành chọn nghề, thì nghề làm Thầy giáo là sự lựa chọn cuối cùng, chứ không phải đầu tiên trong điều tiết của xã hội Việt Nam. Vì thế những ai, từ tuổi thanh xuân bước lên bục giảng cho đến khi được về nghỉ hưu, vẫn thuỷ chung với nghề dạy học đâu chỉ là an phận. Thuỷ chung với nghề thật kiên cường, bản lĩnh qua thẩm định tự thân, để không chỉ khi thoái, lui mới quay ra làm Thầy, mà ngay khi “tiến” hay “đạt” cũng không bỏ đi, mà vẫn như nhất nghề làm Thầy, để cùng học và trồng người không mệt mỏi…”. Thầy luôn nêu tinh thần, tình yêu của mình với nghiệp nhà giáo, không bao giờ vì tác động bên ngoài cũng như cuộc sống mưu sinh hàng ngày mà lay động , luôn giữ cho mình một cốt cách thanh cao của một người Thầy . Học trò theo Thầy rất đông, nhất là từ khi có chuyên ngành Lịch sử văn hoá Việt Nam. Thầy dạy học trò bằng tri thức, sự uyên bác, bằng phương pháp tư duy. Thầy sẵn sàng bỏ mọi công việc khác cùng học trò đi khảo sát dù xa xôi vất vả khó khăn. Thầy chia sẻ với học trò tất cả những gì Thầy có, từ tri thức, kinh nghiệm đến tiền bạc, tâm tình.
Với nửa cuộc đời gắn với nghiệp nghiên cứu sử, Thầy đã công bố hàng trăm công trình nghiên cứu và gần chục quyển sách của riêng mình hoặc Thầy chủ biên.
Bài báo khoa học
1.                 Pháo đất ở Vĩnh Bảo, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 2/1974
2.                 Phát hiện Khảo cổ học ở Con Cuông (viết chung với Diệp Đình Hoa), Thông báo Khảo cổ học, 1975
3.                 Tập hợp giống lúa và nghề trồng lúa ở Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX, Tạp chí Dân tộc học, số 1/1978.
4.                 Hoa màu trong nông nghiệp ở Việt Nam, Kỷ yếu Dân tộc học, 1979.
5.                 Hình tượng Bạch Đằng trong văn học cổ Việt Nam (viết chung với Phan Đại Doãn),Kỷ yếu Hội thảo khoa học về chiến thắng Bạch Đằng, Hải Phòng, 1980
6.                 Đê Hồng Đức và công cuộc khai hoang lập làng ở ven biển nam sông Hồng, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5/1985
7.                 Quan hệ kinh tế - văn hoá Kinh Bắc - Thăng Long,Công bố tại Hội nghị khoa học do UBND Hà Bắc tổ chức, 1985.
8.                 Làng - phương thức định cư của các hoạt động khai hoang truyền thống, Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 2/1986.
9.                 Về các làng Am ở Vĩnh Bảo, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Hải Phòng, số 5/1986
10.            Nghề tạc tượng Linh Động, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Hải Phòng, số 5/1987
11.            Từ những người Việt Nam ra nước ngoài thuở trước, Tạp chí Đất nước, Matxcơva, 1989.
12.            Nước Nga trong con mắt của Nguyễn Trường Tộ, Tạp chí Đất nước, số 4, Matxcơva, 1990.
13.            Sự chiếm dụng ruộng công của tầng lớp chức dịch ở làng xã - qua trường hợp làng Dục Tú, trong: Việt Nam truyền thống (tiếng Nga), Kỷ yếu Hội nghị quốc tế của Trung tâm Việt Nam học, Đại học Tổng hợp Lômônôxôp, Matxcơva, 1993.
14.            Ngô Sỹ Liên bình sử, trong:Ngô Sỹ Liên và Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1998
15.            Bàn thêm về tín ngưỡng thờ thành hoàng của làng Việt ở Bắc Bộ, Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế về Việt Nam học lần I, Nxb Thế giới, H.1998.
16.            Tìm hiểu chính sách làm yên biên giới của triều Lý (viết chung với Nguyễn Ngọc Hải), Kỷ yếu Hội thảo Lý Công Uẩn và vương triều Lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H.1999.
17.            Văn hoá và kinh doanh trong xã hội Việt Nam cổ truyền, trong:Một chặng đường nghiên cứu lịch sử 1995-2000, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000.
18.            Văn hoá làng Việt cổ truyền châu thổ Bắc Bộ trong nền kinh tế hiện nay, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 6/2001.
19.            Làng quê - hồn nước,Tìm trong di sản văn hoá Việt Nam Thăng Long - Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông tin, H.2002.
20.            Làng với phố, trước phố,Bảo tồn di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội, Nxb Văn hoá Thông tin, H.2002.
21.            Nguyễn Trãi - người không theo thói thường, Chuyên san Thăng Long - Hà Nội ngàn năm, 2002.
22.            Nguyễn Bỉnh Khiêm - những giá trị còn mãi với thời gian, Tạp chí Thăng Long - Hà Nội ngàn năm, 1/2003.
23.            Văn hoá truyền thống Nam Định, nhìn từ góc độ địa lý - lịch sử, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 8/2003.
24.            Đoàn Nhữ Hài, trong: Danh nhân Hà Nội, Nxb Hà Nội, H.2004.
25.            Cậu bé làng Gióng, trong:Danh nhân Hà Nội, Nxb Hà Nội, H. 2004.
26.            Sức trẻ Thăng Long (viết chung với Nguyễn Quang Ngọc), trong: Những gương mặt trẻ tuổi Thăng Long - Hà Nội. Nxb Văn hoá Thông tin, H. 2002.
27.            Nam Định trong thế kỷ XV, trong: Địa chí Nam Định, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2002.
28.            Văn hoá Nam Định (Đồng chủ biên với Trần Quốc Vượng), trong: Địa chí Nam Định, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2004.
29.            Nước Đại Việt thời Lê Sơ - một vài đặc điểm căn bản của nền tảng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong: Quốc triều Hình luật. Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị. Nxb Khoa học xã hội, H. 2004.
30.            Đào Duy Anh - người mở đầu nghiên cứu lịch sử Văn hoá Việt Nam. Công bố tại Hội nghị 100 năm (1904-2004) Giáo sư Đào Duy Anh, Hội Sử học Việt Nam tổ chức, 2004.
31.            Hải Phòng, vùng đất bị quên lãng thời Lê Sơ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1/2005.
32.            Giỗ tổ Hùng Vương - nguồn nội lực to lớn của cộng đồng Việt Nam,Tạp chí Thông tin Đối ngoại, số 3/2005.
33.            Sự kiện My Động (4/4/1427) và công cuộc tiến công vây hãm thành Đông Quan, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12,/2005.
34.            Năm năm Bộ môn Văn hoá học và một số vấn đề liên quan đến nghiên cứu và giảng dạy lịch sử văn hoá ViệtNam, Thông báo Khoa học, Viện Văn hoá Thông tin, số 12/2005.
35.            Lê Hoàn - người tổ chức, phát huy và khơi mở nhiều truyền thống quý báu của văn hoá dân tộc,Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn, Nxb Hà Nội, H.2005.
36.            Giáo dục Thăng Long - Hà Nội: cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, trong: Kỷ yếu Hội nghị Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chương trình KX.09. Nxb Hà Nội, H.2006.
37.            Truyền thống và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong nghiên cứu, giảng dạy ở Khoa Lịch sử, Tạp chí Lịch sử quân sự. số 11/2006.
38.            Tiếp cận bản sắc văn hoá dân tộc từ một chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 5/2006.
39.            Nét Việt Nam bộ trong văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XIX, trong: Một số vấn đề Lịch sử vùng đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học, Hội Khoa hoc Lịch sử Việt Nam, 4/2006. Nxb Thế giới
40.            Dấu án tiếp xúc văn hoá miền Bắc Việt Nam với miền Vân Nam - Trung Quốc, Công bố tại Hội thảo quốc tế Tiếp xúc giao lưu kinh tế -văn hoá qua sông Hồng lần thứ I, Vân Nam - Trung Quốc, 2006
41.            Quốc dân độc bản của Đông kinh nghĩa thục – gương chiếu hậu nền khoa cử Nho học Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử,số 9/2007
42.            Quá trình chữ Hán - chữ Nôm- Quốc ngữ, một tiêu biểu của tiếp xúc giao lưu và bản sắc văn hoá Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo quốc tế về giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ văn hoá Việt Nam - Trung Quốc, Nam Ninh - Trung Quốc, 2007
43.            Cảnh quan và di tich lịch sử - văn hoá của Hà Nội qua tư liệu địa bạ cổ, Địa bạ cổ Hà Nội, Tập 2, Nxb Hà Nội, H.2008
44.            Nhân đọc địa bạ cổ Hà Nội, nghĩ về số phận một số công trình kiến trúc, các di tich lịch sử - văn hoá nội thành Hà Nội trước thế kỷ XIX, Thông báo Khoa học, Viện Văn hoá nghệ thuật, số 23, 3/2008.
45.            Mặt trận Đông Quan năm 1427 và chặng đường đến ngày Bình Ngô đại cáo, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Khởi nghĩa Lam Sơn và thành lập vương triều Lê. Văn phòng Ban chỉ đạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hội Sử học Hà Nội, Nxb Hà Nội, H.2008
46.            Câu hỏi của Lê Lợi năm 1428 và triều đình Lê sơ giai đoạn 1428-1459, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 7/2008.
47.            47.“ Hồn” - một quan niệm về Tổ quốc - dân tộc trong văn hoá Việt Nam, Công bố trong Tọa đàm học thuật với các học giả Nhật bản “Vấn đề dân tộc và Chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20”, Trường ĐHKHXH& NV, ĐHQG Hà Nội tổ chức 10/9/2008
48.            Vân Đồn - Quảng Ninh: Một vùng biên không yên tĩnh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Vân Đồn, Trường ĐHKHXH&NV, Sở VH-TT-DL Quảng Ninh, 2007
49.            Sắc thái văn hoá Thăng Long - Hà Nội qua ngàn năm tiếp xúc và giao lưu kinh tế, văn hoá, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ III, H.2008
50.            Nghiên cứu lịch sử và các khoa học xã hội ở Việt Nam thế kỷ XX, Công bố tại Hội thảo quốc tế - Trường ĐH Cộng hòa Liên Bang Đức, tháng 11/2007
51.            Nguyễn Nghiễm, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học của Hội Sử học Việt Nam, Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám, 2008 
52.            Hoàng Ngũ Phúc (1713-1774) trong trường lịch sử văn hoá Việt Nam thế kỷ XVIII (viết chung với Vũ Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Văn Biển), Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Hoàng Ngũ Phúc, Sở VH-TT-DL Bắc Giang - Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức, 7/2008
53.            Về các đấng phi thường trong triều đình Hoa Lư, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1/2009.  
54.            60 năm cuốn Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn, Công bố tại Hội nghị khoa học 100 năm Hoàng Xuân Hãn, Trường ĐHKHXH&NV, 2009
55.            Nguyễn Trung Ngạn - tiêu biểu trong thế hệ vàng của Trí thức Đại Việt nửa đầu thế kỷ XIV, Kỷ yếu hội nghị của Hội Sử học Việt Nam ,tháng 3/2009 (in lại trong Tạp chí Vũng Tàu - Bà Rịa)
56.            Thiên đô chiếu của Lý Công Uẩn - những giá trị không bao giờ cũ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học 1000 năm Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long, UBND Thành phố Hà Nội, Nxb Thế giới, H. 2009
57.            Chính sách văn hoá của Gia Long - Minh mạng về thống nhất quốc gia (viết chung với Nguyễn Trung Hậu), Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt-Đức, Trường ĐHKHXH& NV Hà Nội, 2009.
58.            Nền cảnh, vị thế Thiên Trường trong bối cảnh Đại Việt thế kỷ XIII-XIV (viết chung với Đặng Hồng Sơn, Trần Thái Hà), công bố tại Hội thảo khoa học do Bộ VH-TT-DL và UBND tỉnh Nam Định tổ chức, tháng 7/2009
59.            Về hợp tác nghiên cứu, đào tạo giữa Khoa Lịch sử và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 213 (9/2009)
60.            Từ thuỷ trình sông Hồng trong giao lưu kinh tế, văn hoá Việt Nam - Trung Hoa (viết chung với Vũ Thị Minh Nguyệt), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ văn hoá Việt Nam - Trung Quốc lần II. Tháng 11/2009
61.            Vấn đề nguốn gốc Lý Công Uẩn (Từ nguồn gốc Mân đến danh hiệu Hiển Khánh vương), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12/2009
62.            Từ một số công trình của Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh, nhận thức về tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Nghiên cứu Liên ngành trong KHXH&NV: Kinh nghiệm và triển vọngtháng 12/2009
63.            Đến ngàn năm Thăng Long - Hà Nội từ tài liệu lưu trữ, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Khai thác và phát huy giá trị của các tài liệu lưu trữ trong nghiên cứu KHXH, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009
64.            Hải Phòng thế kỷ XVII-XVIII, Công bố tại Hội thảo Lịch sử văn hoá vùng đất Hải Phòng thời Lê - Trịnh, 2009
65.            Bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của cải cách Trịnh Cương đầu thế kỷ XVIII.  Công bố tại hội thảo khoa học do Hội Sử học Hà Nội - Hội đồng họ Trịnh tổ chức tháng 1/2010.
66.            Lịch sử và văn hoá, Công bố tại Hội nghị Khoa học do Bộ văn hoá Thể thao Du lịch tổ chức, tháng 2/2010.
67.            Sáng mãi ngọn lửa Khuông Việt của Đại sư Ngô Chân Lưu, Công bố tại Hội thảo khoa học Kỷ niệm 999 năm ngày Khuông Việt Quốc sư viên tịch, Học viện Phật giáo Việt Nam, tháng 3/2010.
68.            Còn mãi dấu ấn  thuỷ - chung thời Lý ở Hoa Lâm bên sông Đuống, Công bố tại Hội thảo khoa học do UBND TP Hà Nội tổ chức, tháng 4/2010
Giáo trình, chuyên khảo, sách tham khảo
1.                 Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (Tác giả), Nxb Khoa học Xã hội, H. 1996
2.                 Một ngàn câu hỏi, đáp về Thăng Long - Hà Nội (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000, 2 tập.
Các bài viết khác
1.                 Thầy tôi - GS Phan Huy Lê, một nét chân dung, trong: Phan Huy Lê, một nhân cách, một sự nghiệp, Nxb Thế giới, H. 1999
2.                 Qua “Về con người Phan Liêu” hiểu thêm Bùi Thiết, trong: Thực chất của đối thoại Sử học, Nxb Thế giới, H.2000 
3.                 Thầy Vượng - rất xa và rất gần, trong: Khoa Sử và tôi,Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2001
4.                 Trần Quốc Vượng với Thăng Long - Hà Nội, Lời cuối sách in trong: Trên mảnh đất ngàn năm văn vật. Nxb Hà Nội. H. 1999
69.            Trần Quốc Vượng - thác là thể phách còn là tinh anh, Tạp chí Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2005 (bút danh Hải Thanh, với sự đóng góp của PGS.TS Nguyễn Văn Kim)
70.            Lời giới thiệu tập sách Di chỉ xóm Rền - công trình chuyên khảo của PGS.NGND Hán Văn Khẩn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2009
71.            Lời giới thiệu tập sách Từ làng đến nước- Một cách tiếp cận lịch sử, Tuyển các bài nghiên cứu của GS.NGND Phan Đại Doãn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2010
72.            Lời cuối sách tập sách Trên đất thiêng ngàn năm văn vật. Tuyền các bài viết về Thăng Long - Hà Nội của GS Trần Quốc Vượng. Nxb Hà Nội, H.2010
73.            Văn hoá Thăng Long - Hà Nội, Tuyển tập các bài nghiên cứu văn hóa (Chủ trì)
74.            Thành lũy Thăng Long - Hà Nội (Chủ biên), Công trình trong dự án sách Ngàn năm Thăng Long - Hà Nội, 2010
75.            Và một số bài viết trên các báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân,Tuổi trẻ, Đất Việt, Văn hoá, v.v..
76.            Đề tài nghiên cứu khoa học
77.            Đề tài cấp Trường
78.            Văn hoá và kinh doanh trong xã hội người Việt cổ truyền, 1998-1999.
79.            Đề tài cấp Đại học Quốc gia
80.            Văn hoá ẩm thực truyền thống người Việt (Chủ trì), 2001-2002
81.            Bản sắc văn hoá Việt Nam qua tiếp xúc, giao lưu văn hoá (Chủ trì), 2009-2011
82.            Đề tài cấp Nhà nước
83.            Chương Đàng Ngoài thế kỷ XVIII, trong: Lịch sử Việt Nam, Đề tài độc lập cấp Nhà nước do Khoa Lịch sử thực hiện (GS.TS Nguyễn Quang Ngọc chủ nhiệm), 2002-2004
84.            Giáo dục, đào tạo Thăng Long - Hà Nội: định hướng phát triển giáo dục, đào tạo Thủ đô thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Chủ nhiệm), Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX.09.07, 2004-2008.
85.            Đề tài nhánh: Đối ngoại nhân dân - Tiếp xúc giao lưu kinh tế, văn hoá của nhân dân Thăng Long - Hà Nội với cả nước và quốc tế, thuộc Đề tài Khoa học cấp nhà nước: Hoạt động đối ngoại Thăng Long - Hà Nội, mã số KX.O9.02,  PGS.TS Phạm Xuân Hằng chủ nhiệm, 2004-2008
86.            Thăng Long thời Trần, trong: Lịch sử Hà Nội, Đề tài đặc biệt trong Chương trình Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, GS Phan Huy Lê chủ nhiệm, 2008-2010.




2.     Thầy Nguyễn Hải Kế với khoa Lịch Sử
2.1.         Trên cương vị một nhà nghiên cứu lịch sử
Thầy Nguyễn Hải Kế Một nhà trí thức uyên bác và đóng góp to lớn cho nền sử học – văn hóa học nước nhà.
Sản sinh từ khoa Lịch sử - Đại học Tổng hợp Hà Nội PGS. TSKH Nguyễn Hải Kế không những là một trí thức sử học uyên bác, thông thảo sử liệu cổ trung – tạo dựng bộ môn Văn hóa, là người quản lí dẫn dắt khoa Lịch sử mà Thầy còn là một trong những người có đóng góp đặc biệt cho nền sử học Việt Nam.
Thầy là một trí thức sử học hiếm có. Từ một sinh viên khoa sử Thầy Nguyễn Hải Kế được giữ lại trường vì kết quả học tập xuất sắc, được cử đi học và bảo vệ luận án Phó tiến sĩ rồi luận án tiến sĩ ở Liên Xô, hoàn thành Thầy lại được trở lại công tác và giảng dạy tại khoa. Những chặng đường Thầy đi xét vào thời điểm hoàn cảnh lúc bấy giờ không có mấy ai được như vậy. PGS.TS Vũ Văn Quân đã nhận xét: “Nếu xét trên phương diện của một nhà khoa học, Thầy Kế của chúng ta là một tấm gương sáng về sự say mê khoa học, cả đời Thầy đã đắm đuối với cái nghiệp Lịch sử chuyên về cổ trung đại, sau này rộng ra là ở lĩnh vực Văn hoá học và nhất là Lịch sử văn hoá Việt Nam. Sự đam mê và nỗ lực của bản thân cùng với tố chất bẩm sinh rất thông minh đã hội tụ lại làm nên một khối tri thức về lịch sử văn hoá Việt Nam rất phong phú và sắc sảo”[4]. Nhưng thể hiện rõ nhất cho một tri thức sử học tuyệt vời là ở chỗ Thầy biết biến mình vào quá khứ để nói lên lịch sử và dự báo cho tương lai.
Có thể thấy Thầy không quá ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng, Thầy cũng không phải là cái tên quá quen thuộc trong những tác phẩm lịch sử đồ sộ. Nghiệp sử của Thầy là hướng vào cái tâm mỗi con người học sử, dùng trí thức của mình để tạo dựng và khắc sâu vào nhận thức của những người theo sử. Khi đứng trên giảng đường, Thầy là một kho tư liệu vô giá, cách dạy sử của Thầy không giống ai, không cầu vinh, cũng chẳng cầu danh. Thầy Trần Viết Nghĩa có chia sẻ Thầy đã phát huy cao độ tinh dần dân chủ trong dạy và học, thu hẹp cái khoảng cách vô hình vốn đè nặng lên Thầy trò Việt qua nhiều thế kỷ[5]”. Cách dậy sử, cách viết sử của Thầy không sâu xa khó hiểu, không quá nhiều những diễn đạt dài dòng không cần thiết. Khi viết về Thầy tác giả Đỗ Minh Tuấn đã đưa ra hai quan điểm mà tôi thấy rất đúng, đó là: Nguyễn Hải Kế là một thi sỹ, một người anh trong đời sống hàng ngày” và ở Thầy Nguyễn Hải Kế luôn ẩn hiện một“Nhân cách sỹ phu Bắc Hà và tầm nhìn xa của nhà sử học”[6]. Ấy là cách dạy sử của một người Thầy đã thực sự đặt mình vào trong lịch sử để nói lịch sử, một người có trí thức vượt trội không giống ai, không như ai.
Trong lĩnh vược nghiên cứu cơ bản, Thầy đã tham gia nghiên cứu 4 đề tài khoa học cấp nhà nước, và là tác giả của nhiều đầu sách. Tiêu biểu như:  Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ, Ngàn năm lịch sử văn hóa Thăng Long (hỏi – đáp), Thăng Long – Hà Nội tuyển tập công trình nghiên cứu lịch sử, Giáo dục Thăng Long – Hà Nội quá trình kinh nghiệm và định hướng phát triển. Với hơn một trăm công trình nghiên cứu đã được công bố, nhiều cuốc sách do Thầy trực tiếp viết hoặc chủ biên đã góp phần cung cấp những tri thức sâu rộng của nền văn hóa nước nhà.
Với giới sử học và đông đảo sinh viên Lịch sử, văn hóa những tác phẩm cua Thầy đã thực sự là những tác phẩm có tâm huyết có chiều sâu tri thức và đặc biệt hơn cả có lẽ là cái cách mà Thầy tiếp cận và nhìn nhận lịch sử, nhìn nhận văn hóa theo phong cách rất riêng biệt, điều đó đã được khẳng định trong bài viết “Vĩnh biệt nhà giáo tâm huyết, nhà khoa học tài danh Nguyễn Hải Kế”. Tôi tin rằng tôi, bạn và tất cả chúng ta đều có chung nhận định rằng :“PGS,TSKH.Nguyễn Hải Kế đã để lại dấu ấn đậm nét trong nghiên cứu cổ sử và lịch sử văn hoá Việt Nam hiện đại[7]”.
2.2.         Trên cương vị một người trưởng khoa
Người lái đò khoa lịch sử
Gắn bó với khoa lịch sử từ năm 1975 đến 1987, sau đó đi học bên Liên Xô đến 1997 trở về Thầy lại tiếp tục gắn bó với khoa lịch sử đến cuối cuộc đời. Phân nửa cuộc đời Thầy gắn bó với khoa sử lịch sử và ngành sử, trong suốt thời gian ấy Thầy đã cùng các bậc Thầy danh tiếng như: “Tứ trụ triều đình” Đinh Xuân Lâm, Phan Huy, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phan Đại Doãn, Vũ Dương Ninh, Nguyễn Thừa Hỷ, Vũ Quang Hiển, Ngô Đăng Tri, Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Minh Giang, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Kim, Vũ Văn Quân, Nguyễn Chiều, Lê Văn Thịnh, Đặng Xuân Kháng, Hoàng Văn Khoán, Hán Văn Khẩn, Lâm Mỹ Dung, Hoàng Anh Tuấn, Trần Thiện Thanh, Nguyễn Quang Liệu, Trần Viết Nghĩa, Đỗ Thị Thùy Lan, Đỗ Thị Hương Thảo, Nguyễn Văn Ánh, Nguyễn Xuân Mạnh, Hoàng Hồng Nga, Nguyễn Hoài Phương, Nguyễn Bảo Trang, Phan Phương Thảo, Hoàng Hồng, Đinh Thị Thùy Hiên, Lý Tường Vân, Lê Thị Kim Dung, Nguyễn Ngọc Phúc, Nguyễn Đình Lê, Phạm Đức Anh, Lê Thị Quỳnh Nga, Trịnh Văn Bằng, Nguyễn Thị Mai Hoa… Thầy Kế đã cùng tập thể anh chị em giảng viên trèo lái con thuyền khoa lịch sử vượt qua những khó khăn lúc bấy giờ. Thầy Vũ Văn Quân chia sẻ “Từ năm 2004, anh vững tay chèo lái con thuyền Khoa Lịch sử ở vào thời điểm nhiều khó khăn khi lớp các Thầy cô lẫy lừng lần lượt nghỉ hưu hay nhiều anh em bạn bè trang lứa chuyển sang đơn vị công tác khác. Một thế hệ cán bộ sinh từ nửa sau thập niên bẩy mươi mà nay đã chiếm tới gần hai phần ba Khoa Lịch sử được anh chăm chút đã trưởng thành, từng bước và đủ sức tiếp nối sứ mệnh, uy tín, danh tiếng của một đơn vị đào tạo và nghiên cứu sử học hàng đầu của cả nước[8].
Thầy Ngọc cũng cho biết “Thầy Kế là người hết mình vì công việc, đã nhận là làm hết sức. Từ lúc làm Chủ nhiệm Khoa thì Thầy Kế đã tổ chức các công việc của Khoa rất tốt. Từ 2004 đến nay, trong điều kiện rất khó khăn nhưng Khoa cũng đã có những bước phát triển rất tốt trong công tác đào tạo, nghiên cứu, tổ chức sắp xếp con người, công việc. Khoa vẫn giữ vững được vị thế của một đơn vị hàng đầu trong các đơn vị đào tạo, nghiên cứu về Sử học trong cả nước” và “Thành tựu mới nhất và là niềm tự hào của Khoa Lịch sử, mà trong đó có sự đóng góp rất lớn của PGS. TSKH Nguyễn Hải Kế là bộ “Lịch sử Việt Nam” 4 tập. Trước đó, trong đợt kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế cũng tham gia chủ biên và viết chung rất nhiều sách, chủ yếu là sách về văn hoá, giáo dục. Thầy cũng chủ nhiệm 01 đề tài khoa học cấp Nhà nước về Giáo dục của Thăng Long-Hà Nội. Ngoài ra, Thầy Kế còn rất nhiều công trình đóng góp có giá trị như cuốn “Văn hoá làng xã Việt Nam” viết về làng Dục Tú – một cuốn khảo cứu rất bài bản, công phu được người trong giới đánh giá cao[9].
Thầy Kế là người góp phần giữ gìn truyền thống vẻ vang của khoa sử, từ phong cách sống giản dị, thật thà chất phác, ghét thói đời xu nịnh mà Thầy đã tạo nên một khoa sử có uy tín về học thuật. Thầy Kim chia sẻ: “Thầy Kế là một người đã góp phần tạo nên tinh thần khoa học cho khoa sử nói riêng và trường đại học Nhân Văn nói chung”.
Cùng với Thầy Vượng, Thầy Kế là người có công lao to lớn đối với sự ra đời của bộ môn Văn hóa học “Trở về sau 9 năm đất khách quê người, hai năm sau (1998) cùng lãnh đạo Khoa Lịch sử và Giáo sư Trần Quốc Vượng, anh lao mình vào xây dựng Bộ môn Lịch sử văn hoá Việt Nam (nay đổi là Văn hoá học và Lịch sử văn hoá Việt Nam). Từ đấy, trên nền tảng kiến thức vững chắc về lịch sử Việt Nam, nhất là về thời kì cổ đại và trung đại, anh say mê tìm hiểu, khám phá những khía cạnh của đời sống văn hoá dân tộc, từ truyền thống để thức nhận cái hiện tại hay giải mã cái hiện tại từ biện chứng của truyền thống[10]. Mới đây ngày 19/12/2013, bộ môn Văn hóa học vừa quyết định mở chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Văn Hóa Học. Vậy là tâm huyết của Thầy Kế đã thành hiện thực, trong ngày vui này bộ môn văn hóa học nói riêng và khoa sử lại nghĩ về Thầy, cô Hoài Phương chia sẻ “12 năm viết và chỉnh sửa Đề án, bao phen vất vả ngược xuôi, lắm bận ức trào nước mắt, cuối cùng, hôm nay Đề án mở mã ngành Thạc sĩ Lịch sử văn hoá VN đã chính thức thông qua. Chỉ tiếc là các Thầy đều không chờ được. Hôm nay, 19/12, tròn 9 tháng vắng bóng Thầy. Nếu Thầy còn hẳn là Thầy sẽ vui lắm”, giảng viên trẻ Nguyễn Ngọc Minh cũng cùng tâm trạngNgồi phòng bảo vệ Hội đồng, nghe các phản biện, ủy viên tranh luận, em cứ ngẩn ngơ, nghĩ không biết giờ Thầy mà ngồi đây thì Thầy sẽ nói gì, lúc biết kết quả bỏ phiếu Thầy sẽ như thế nào. Nghĩ cũng buồn thật”.
Những đóng góp của Thầy Kế đã được nhà trường và khoa lịch sử ghi nhận “Không chỉ là một nhà giáo, nhà khoa học giỏi, PGS, TSKH Nguyễn Hải Kế còn là một cán bộ quản lí giàu nhiệt huyết và có tinh thần trách nhiệm cao. Trong suốt 9 năm làm Chủ nhiệm Khoa Lịch sử đồng thời kiêm nhiệm Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử văn hoá, Phó Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội, ở bất cứ cương vị nào, đồng chí cũng đều thể hiện là một người bản lĩnh, thẳng thắn, trung thực, giàu nghị lực và có tinh thần sáng tạo, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bằng những nỗ lực của mình với tư cách người đứng đầu Khoa Lịch sử nhiều năm, Thầy Nguyễn Hải Kế đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của Khoa, của ngành Lịch sử Việt Nam, đặc biệt trong việc duy trì truyền thống học thuật của Khoa Sử- khoa duy nhất trong Trường đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động”.
Người Thầy luôn tận tâm hết mình vì công việc, vì học trò
Thầy luôn là con người bận rộn với công việc, ngoài việc đi công tác và lên lớp thì việc đi điễn dã cũng chiếm đi của Thầy rất nhiều thời gian. Thế nhưng ngoài những lúc đi điền dã hay đi công tác thì người ta sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh một người Thầy già tay cầm điều thuốc ngồi trong văn phòng khoa, nói chuyện với đồng nghiệp, với học trò và với Thầy của mình rất than mật. Với Thầy khoa lịch sử là ngôi nhà thứ hai. Tất cả mọi người trong khoa sử đều có chung một nhận xét rằng Thầy Kế là một con người luôn hết mình và tận tâm với công việc của khoa, Thầy lúc nào cũng tận tụy với công việc, công việc chuyên môn, công việc quản lý.
Thầy để ý đến từng người, từng hoàn cảnh của đồng nghiệp trong khoa, hiếm có một người thủ trưởng nào lại quan tâm đến đồng nghiệp được như Thầy. Trong bản báo cáo cuối năm của mình, Thầy đã đếm được không xót một ai còn chưa có nhà để ở, điều kiện chưa đủ để sống… khiến các Thầy cô trẻ như được an ủi và có thêm động lực để vươn lên trong cuộc sống gian nan này.
Dù bận rộn đến đâu nhưng bất cứ khi nào đồng nghiệp trong khoa có chuyện xảy ra là Thầy có mặt, Thầy lo cho các đồng nghiệp trẻ tuổi như người cha lo cho người con. Thầy Trần Viết Nghĩa cho biết “Khi Thầy Kế nghi tin mình bị tai nạn Thầy đã vội vào ngay bệnh viện hỏi thăm, những ánh mắt trìu mến của Thầy Kế đến nay Thầy vẫn không thể nào quên”.
Chính nhờ sự quan tâm, gắn kết của Thầy mà bấy lâu nay khoa sử vẫn tự hào với nhau về truyền thống đoàn kết, đồng nghiệp trong khoa yêu thương đùm bọc lẫn nhau, vui cái vui của chung, chia sẻ cái buồn của nhau và động viên nhau cùng vượt lên tất cả. Bây giờ một thế hệ các nhà giáo, nhà nghiên cứu trẻ được Thầy chăm sóc đã và đang tiến những bước dài trên con đường khoa học và sư phạm, rồi đây chính họ sẽ là người viết tiếp những trang sử mà Thầy còn viết dang dở, và cũng chính họ sẽ là người sẽ chiều tiếp những chuyến đó trở lớp lớp các thế hệ sinh viên đến bến bờ tri thức. Tôi đã nghe thấy mỗi người trong họ thầm hứa với lòng sẽ cố gắng vì tương lai sử học nước nhà.
Trăm năm trong cõi người ta
Con đường sử học quả là khó thay
Trăm người hội tụ chốn này
Chung tay góp sức dựng xây sử nhà
2.3.         Trong ký ức Thầy, cô, bạn bè
Thầy Nguyễn Hải Kế trong ký ức những người Thầy của mình
Thầy Nguyễn Hải Kế được may mắn làm việc với các bậc Thầy lừng danh của ngành sử học nước nhà, đó là các Thầy “Tứ trụ triều đình” Lâm, Lê, Tấn, Vượng… cùng rất nhiều cây đại thụ khoa sử.
Theo sự phân công của khoa, Thầy Kế được phân công bám sát Thầy Trần Quốc Vượng để học hỏi kinh nghiệm, những tháng ngày theo Thầy Vượng, một người Thầy có phong cách sống rất phóng khoáng và lãng tử, những cách đó đã nhiễm vào con người Thầy Kế. Cộng với chữ “Ngông” sẵn có trong mình, Thầy Kế đã dựng nên cho mình một hình tượng không thể hòa trộn, người ta thấy ở Thầy một phong cách khác, chứ không bị cái bong của các bậc Thầy lừng danh che khuất.
Thầy Phan Huy Lê nhà sử học hàng đầu Việt Nam hiện nay nhận xét rằng, Thầy Kế là một trong những học trò mà Thầy tin cậy nhất “Trong tất cả các học trò của mình đó, thì Kế là người mà tôi quý mến nhất và đặc biệt Kế là tôi tin cậy nhất”. Vì đức tính thật thà của mình mà Thầy Kế được các Thầy, cô của mình quý mến hết lòng.
Khi còn là chàng sinh viên khoa sử cậu sinh viên Nguyễn Hải Kế luôn là một sinh viên đam mê lịch sử, theo chuyên ngành lịch sử Việt Nam và tình nguyện ở lại khoa làm nghề giáo. Những năm này đất nước gặp vô cùng khó khăn, nhưng Thầy vẫn cùng đồng nghiệp giữ vững niềm tin vào sự phát triển của lịch sử. Những năm này Thầy gắn bó với với các Thầy, học hỏi từ các Thầy của mình, rồi những công trình nghiên cứu khoa học của Thầy lần lượt ra đời, những tác phẩm đó đã từng bước đánh dấu sự nghiệp khoa học của mình. Sau này khi đã trở thành một nhà khoa học nổi tiếng và có uy tín khoa học cao, nhưng Thầy vẫn luôn giữ thái độ khiêm nhường và thái độ tôn kính rất mực với các bậc Thầy của mình. Chính những yếu tố đó đã góp phần làm cho Thầy trở thành một con người có sức ảnh hưởng to lớn về mặt uy tín cá nhân.
Thầy Nguyễn Hải Kế trong ký ức của những người bạn đồng lứa
Qua lời kể của các bạn đồng trang lứa, cậu sinh viên Nguyễn Hải Kế từ khi mới vào trường đã mang trong mình niềm đam mê lịch sử với một nền kiến thức cơ bản.
Đến sau này khi đã bắt đầu trở thành một nhà nghiên cứu có tiếng thì Thầy vẫn sống chân tình với bạn bè, luôn sẵn sang giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn, luôn cho đi những gì mình có khi bạn bè cần. Thầy lúc nào cũng chân thành, giản dị, luôn gần gũi quan tâm đến mọi người, Thầy mộc mạc như những người nông dân thực thụ. Cô Lâm Mỹ Dung chia sẻ “Cô nhớ nhất là những lần “Chạnh chọe” với Thầy, còn Thầy Kế thì luôn nói rằng trong khoa tôi sợ nhất là cô bé này”.
Có người bạn lại nhận xét rằng Thầy Nguyễn Hải Kế có tính cách của một thi sĩ một người anh trong đời sống hằng ngày. Từ thủa còn cắp sách đến trường người ta đã thấy Thầy Kế làm thơ, những bài thơ tình thấm đẫm những suy tư thời cuộc nhưng không hề sáo rỗng, qua những bài thơ này đã phần nào nói lên cách suy và suy nghĩ của Thầy trong cuộc sống. Ngoài những bài thơ trăn trở sự đời ra Thầy cũng viết thơ tình, những bài thơ viết để dung làm tài liệu cho bài giảng của Thầy, trong bài giảng Thầy có thể ngâm thơ, có thể phổ thơ của mình để hát hay cũng có những bài thơ viết xong rồi Thầy lại cất đi.
Thầy Nguyễn Hải Kế luôn sống hết mình vì người khác, luôn đặt mình vào vị thế của người sẵn sàng cho đi khi có thể. Chơi với bạn bè anh tự cho mình cái chức làm anh, anh luôn suy nghĩ thấu đáo trước mọi việc, anh lo cho từng người bạn của mình đến từng bữa ăn giấc ngủ. Hồi còn là sinh viên Thầy từng có thời gian gắn bó với Thầy Nguyễn Hùng Vỹ khoa văn, họ sống với nhau tình cảm gắn bó thân thiết. Ngay trong đêm Thầy Kế mất, nhận được tin Thầy Vỹ đã thức đêm để viết bài thơ Khóc Thầy.
Thầy Nguyễn Hải Kế có nhân cách của người sỹ phu Bắc Hà và nhân cách của một nhà sử học. Bạn Thầy là Đỗ Minh Tuấn đã từng chia sẻ “Thầy Nguyễn Hải Kế sống khẳng khái chẳng chịu ra vào luồn cúi trước ai, không hề bị quyền cao danh vọng cuốn đi trong dòng đời nghiệt ngã”. Hơn thế nữa Thầy Nguyễn Hải Kế còn là một con người có tầm nhìn xa trông rộng, vào cuối những năm thấp kỷ 80 chưa ai nói đến chuyện kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội thì Thầy Kế đã có những hoạt động rục rịch chuẩn bị về tư liệu vết những công trình có giá trị.
Thầy Kế là con người không tham quyền cao chức trọng, cho dù đã có lúc Thầy có cơ hội tiến thân trên con đường chính trị, nhưng Thầy đã bỏ qua và nhất quyết một đời dù khi “Tiến” khi “Thoái” vẫn một lòng với nghề trồng người cao cả.
2.4.         Thầy Nguyễn Hải Kế trong ký ức giảng viên trẻ
Đối với các Thầy, Cô giảng viên trẻ Thầy Nguyễn Hải Kế như người anh, người cha tận tình chỉ bảo từ những bước đầu tiên trên con đường giáo dục. Cô Đỗ Thị Hương Thảo chia sẻ “Thầy Kế đã để lại trong trí nhớ cô một niềm thành kính và biết ơn vô cùng, Thầy dạy cho tôi những kỹ năng đầu tiên khi tôi bước chân tập tễnh vào nghề”. Còn cô Hoài Phương lại coi Thầy như người thân ruột thịt trong nhà, cô chia sẻ “Những ngày đầu Thầy vừa mới mất, hình ảnh của Thầy luôn hiện về đẹp đẽ trong những giấc mơ tôi”. Có lẽ hiếm có một người sếp nào nại có thể làm được như Thầy, trong buổi họp tổng kết cuối năm Thầy kể ra từng cán bộ chưa có nhà, hay điều kiện kinh tế chưa đủ sống... khiến ai cũng đều cảm thấy mình được quan tâm và nhờ đó họ thêm yêu và gắn bó với nghề hơn.
Thầy là một cây đại thụ trong làng sử học. Mỗi Thầy, Cô trẻ mọi người ai cũng đều hết lòng kính nể vốn tri thức và đầu óc uyên bác của Thầy. Chỉ nói đến chuyện ăn của người Việt mà Thầy Kế có thể nói cả ngày, cả tuần hoặc thậm chí cả tháng mà không hết. Trong Thầy có kiến thức sử Việt Nam cổ trung, có lịch sử Văn hóa học… mỗi người trong khoa đều nhìn vào gương Thầy mà phấn đấu noi theo.
Thầy là một thi sĩ thực thụ. Mỗi khi liên hoan cùng tập thể khoa Thầy có thể ngồi ngâm thơ, lảy kiều, hát… như một nghệ sĩ không chuyên. Những buổi đọc thơ của Thầy có thể kéo dài vài tiếng hoặc thậm chí cả ngày, những câu thơ tình Lục Vân Tiên rồi lại đến những chủ đề lịch sử được Thầy khéo léo khơi ra làm chủ đề cho mọi người cùng thảo luộn, tạo không khí thân thiện, vui vẻ và hòa đồng.
Vì những lẽ đó mà khi Thầy đổ bệnh cả khoa đã thay nhau cắt cử người đến chăm sóc cho Thầy, bên bệnh viện lúc nào cũng có người nhà và những người học trò tận tình chăm sóc. Người ta về với Thầy để được làm trọn chữ tình mà Thầy đã dành cho họ, bệnh viện nơi Thầy năm lúc nào cũng có học trò ra vào. Đây là một điều khó gặp giữa lúc xã hội đang xôn xao vì sự xuống cấp của ngành giáo dục. Tất cả những đều đó có được là vì họ quý Thầy, một con người suốt đời vì người khác cho đến hơi thở cuối cùng.
2.5.         Trong ký ức học trò
Thầy là một người nằm ở tầm cao của tri thức nhưng không hề xa với đối với sinh viên, mà ngược lại Thầy luôn gần gũi quan tâm đến hết thảy những ai có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt.
Thầy Kế là một con người giản dị đến vô cùng, người ta đặt cho Thầy biệt danh “Kế nhà quê” là thế. Gặp sinh viên nào Thầy cũng có thể tiếp chuyện, những câu chuyện về học hành, những câu chuyện của sinh viên mới từ quê lên Hà Nội xa nhà bỡ ngỡ trước cuộc sống phồn hoa đô hội. Tất thảy những chuyện đó Thầy đều lắng nghe và đưa ra những lời khuyên chân tình tự tận đáy lòng của mình. Có lần tôi gặp Thầy đang tay sách nách mang ba lô đi giữa sân trường, hỏi ra mới biết Thầy đang cùng với Thầy Hán Văn Khẩn, Dương Trung Quốc… và mấy Thầy nữa chuẩn bị về Hải Phòng quê Thầy chơi, tôi tiến lại gần và chào Thầy, Thầy liền bảo tôi “Này cậu, mai là thứ bảy rồi, hôm nay ông về quê tôi chơi đi, ngày mai nhà tôi vét ao, về tôi khao ông món đặc sản quê do chính tôi làm”. Thầy mời tôi như những người thân từ thủa nào, những câu nói chân tình đó sẽ mãi theo tôi đi vào con đường tương lai sau này.
Thầy thẳng tính và rất nghiêm khắc. Anh Nguyễn Văn Ngọc, sinh viên k55 khoa lịch sử kể: “Một lần mình lên gặp Thầy xin chữ kí xác nhận học bổng cho lớp, Thầy nhìn qua tờ giấy và mắng “Sinh viên khoa Sử mà chữ xấu như này à, xấu quá, xấu hơn chữ của tôi” rồi Thầy bảo lần sau viết đơn thì viết chữ cho rõ ràng vào, sinh viên khoa Sử là không được viết chữ xấu như thế đâu”. Thầy thể hiện tính cách của mình một cách tự nhiên trước mọi người không hề che dấu, Thầy nổi tiếng với tính cách khẳng khái, thật thà và ghét bọn xu nịnh,  luồn cúi.
Thầy luôn quý và biết cách để những người tài có đất để dụng võ, khi phát hiện ra điểm mạnh ở ai đó Thầy sẽ tạo điều kiện hết sức để họ phát huy được hết điểm mạnh của mình, đồng thời chỉ bảo tận tình để họ hạn chế những điều thiếu xót. Tôi vốn mang bản tính ương ngạnh nên khi mới vào trường đã có những phát biểu “gây sốc” khiến nhiều người cảm thấy khó chịu, nhân một lần đi thực tập ở Kim Chung – Lai Xá – Hoài Đức Thầy xuống thăm đoàn chung tôi, Thầy đã chia sẻ những kinh nghiệm trong quảng đời làm đoàn của mình cho tôi nghe và khuyên bảo tôi rất nhiều, những lời khuyên bảo của Thầy đến nay tôi vẫn còn ghi nhớ và nó sẽ mãi là hành trang quý báu giúp tôi vững bước hơn trên con đường hoạt động đoàn. Thầy Với đức tính này mà trong hơn 30 năm gắn bó với nghiệp lái đò có biết bao nhiêu thế hệ đã đi đến tương lai nhờ con đò của Thầy, khi nghe Thầy ốm họ đều đến thăm hoặc tỏ lòng kính hiếu.
3.     Kết luận
PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế từ khi sinh ra cho đến khi lìa đời đã luôn giữ trọn đạo hiếu kính với gia đình, hai chữ gia đình luôn luôn văng vẳng trong đầu Thầy dù là khi đã lấy vợ hay chưa. Bằng chứng là sau này khi đã trở thành nhà khoa học tầm cỡ rồi nhưng hai chữ “Quê hương” vẫn luôn được Thầy trân trọng nâng niu, đúng như câu thơ.
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người
Dòng sữa ngọt quê hương đã nuôi lớn tâm hồn và bản lĩnh trí tuệ trong con người thật thà, chất phác Nguyễn Hải Kế. Chính dòng sữa ngọt đó đã làm nên sức mạnh và lòng bao dung trong Thầy, dù là ở trên cương vị nào đi nữa thì cũng đều luôn sống vì người khác, cháy hết mình vì công việc.
Thầy là người có công lớn trong việc tạo tiền đề cho sự ra đời của bộ môn Văn hóa học, từ những ngày đầu tiên Thầy đã cùng Thầy Trần Quốc Vượng đặt những viên gạch đầu tiên và xây dựng nó đến nay bộ môn Văn hóa học thu hút được sự yêu thích của rất nhiều sinh viên. Cũng nhớ bộ môn này mà tên tuổi của Thầy càng được mọi người biết đến nhiều hơn, yêu Thầy nhiều hơn.
Thầy là người lái đò khoa sử, là người luôn được khoa Sử vô cùng quý mến và được toàn trường gọi với cái tên “Người sống trong nỗi nhớ”.



lối xưa điền dã đâu rồi




người Thày giáo yêu nghề, nhà khoa học trung trực




người sống trong nỗi nhớ
Nguồn ảnh: Anh Lượm, các trang internet...
LÝ VIẾT TRƯỜNG - VÀNG A CỬ
BÙI VĂN CHÍNH  - LÊ ĐÌNH CƯỜNG



[1] Thơ Thầy Nguyễn Hùng Vĩ
[2] Lý Viết Trường, k57 Lịch sử chia sẻ.
[3] Thơ khuyết danh

[4]“Một người Thầy luôn hết mình vì công việc và vì học trò!” http://ussh.vnu.edu.vn/thay luon-trong-trai-tim-moi-nguoi/7531 

[5] Thầy Trần Viết Nghĩa, 27/03/2013.

[6]Nhớ bạn Nguyễn Hải Kế, http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song

[7] “Vĩnh biệt nhà giáo tâm huyết, nhà khoa học tài danh Nguyễn Hải Kế” http://ussh.vnu.edu.vn/vinh-biet-nha-giao-tam-huyet-nha-khoa-hoc-tai-danh-nguyen-hai-ke/7548
[8] Vũ Văn Quân, Nhà giáo, nhà khoa học tận tâm, tận lực, người bạn tận tình, http://ussh.vnu.edu.vn/nha-giao-nha-khoa-hoc-tan-tam-tan-luc-nguoi-ban-tan-tinh/7528, cập nhật ngày 02/03/2014.
[10] Vũ Văn Quân, Nhà giáo, nhà khoa học tận tâm, tận lực, người bạn tận tình, http://ussh.vnu.edu.vn/nha-giao-nha-khoa-hoc-tan-tam-tan-luc-nguoi-ban-tan-tinh/7528, cập nhật ngày 02/03/2014.