TỪ YÊU NƯỚC PHẢI XIN PHÉP, ĐẾN... (HAY LÀ
KHÚC BI - TRÁNG CỦA TRÍ THỨC NHO HỌC VIỆT NAM NỬA CUỐI XIX)
PGS.TSKH NGUYỄN HẢI KẾ
Từ năm 1882 đến 1885, Cử nhân - Thượng thư Bộ Hình, Đại thần Viện Cơ mật Phạm Thận Duật đã:
- Dâng biểu tấu mật kiến nghị 4 điểm và chiến lược phòng thủ đất nước, chuẩn bị chống xâm lược, được Tự Đức đưa ra Viện cơ mật bàn.
- Một năm (2/1883- 1/1884) lãnh chức Chánh sứ, đeo mệnh, và cũng đeo bệnh dọc đường sang Thiên Tân (Trung Quốc), về nước chuyển sang Thượng thư bộ Hộ.
- Ngày 6-6-1884, tại Kinh đô Huế, là Toàn quyền của triều đình Huế ký Hiệp ước gồm 19 điều khoản với Patenôtre - Sứ thần Cộng hòa Pháp.
- Tháng 8-1884 kiêm Tả Tham tri bộ Công.
- Gần một năm sau, cũng chính Ông, một trong những nhân vật chủ chốt phò vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), phát Chiếu Cần Vương ngày 13-7-1885.
- Ngày 29-7-1885, ông bị tay sai Pháp bắt, giam hết trong đất liền (Thương Bạc) đến ra đảo (Côn đảo).
Và, ngày 29-11 của 125 năm trước ông mất trên thủy trình đi đày Tahiti. Hình hài ông hòa vào với đại dương….
Như vậy, chỉ trong vòng ba năm, bao sự kiện dồn dập, kết nén lại trong cuộc đời của Phạm Thận Duật, phản chiếu không chỉ riêng thân phận Cử nhân - Thượng thư Cơ mật đại thần, mà của đội ngũ trí thức Nho học Việt Nam trong khung/ khổ của quốc gia, vương triều Nguyễn cuối XIX.
1. Trí thức: DẤN THÂN YÊU ĐỜI
Nói đến phẩm chất trí thức trước hết là nói đến, là không quên: Trí thức là dấn thân hành đạo theo định hướng dẫn đường, cải tạo, xây dựng cộng đồng, xã hội! Đó cũng là đặc điểm, thuộc tính hàng đầu của tầng lớp này, khác biệt đầu tiên với tầng lớp khác.
Giai đoạn 1851-1885 là 35 năm, bằng toàn bộ cuộc đời trí thức - quan trường của mình, từ khi đỗ Cử nhân ra làm quan thời vua Tự Đức, rồi phò tá Hàm Nghi, dù trong bất kỳ cương vị hoàn cảnh nào, cũng là một Phạm Thận Duật, là sự phát triển thống nhất, trọn vẹn không chia cắt sự phát triển hoài bão "mấy chước điều canh cùng một dạ" của chàng trai Yên Mô Thượng từ thuở 15 tuổi tỏ chí. Cuộc đời của Phạm Thận Duật là một điển hình của phẩm chất trí thức Nho học yêu nước, dấn thân, không ngại từ nan khó, hết lòng mẫn cán cùng công việc được trao.
Sáu năm đầu dặm quan trường, Phạm Thận Duật hết làm Giáo thụ Đoan Hùng, rồi Tri châu Tuần Giáo rồi kiêm cả Luân Châu. Dẫu biết "miền biên viễn lam chướng độc hại, nơi "thập tử nhất sinh" trước nay các lưu quan đưa lên bị ốm chết đến quá nửa" (chữ dùng của Phạm Thận Duật), và rồi bản thân cũng bị sốt rét hành thành bệnh đường tiết niệu (mà ông sẽ đeo suốt đời) vẫn tự thức "đó là việc nước, không nên từ nan" trong quản trị, để lại cho đời Hưng Hóa ký lược.
Hai mươi năm trị nhậm vùng Bắc Giang, Bắc Ninh - vùng đất mà nửa sau thê kỷ XIX "mùa màng mất càng nhiều, ngoài thì giặc biên trấn, trong thì lũ gian dân" (Văn võ tỉnh Bắc viếng Bùi Chế đài) triền miên thổ phỉ, giặc dã, chưa hết từ trên Lạng Sơn kéo xuống, lại Tạ Văn Phụng từ vùng biển Đông Bắc tràn sang. Phạm Thận Duật đã mang ước vọng và tinh thần "từ sự việc ở biên cương mà ném bút cầm gươm thề một lòng giết giặc,... ta muốn làm trong sạch vùng biên giới nước ta như thời Trần, thời Lê ngày trước"[1].
Rồi hai năm tiếp bước Hoàng Giáp tiền bối Nguyễn Tư Giản, Phạm Thận Duật lao tâm trị thủy hệ thống sông Hồng. Dẫu có lần bị trừ đi 7, 8 tháng lương vì việc hàn đê, vẫn trút tâm, trí tổng kết thành Hà đê tấu tập… Rồi năm 1878, sung vào Viện Cơ mật, Sư bảo (thày dạy) cho hai Hoàng tử Dục Đức, Chánh Mông, sau lại sung Quốc sử quán, Phó Tổng tài, kiêm quản Quốc tử giám, Tổng kiểm duyệt và in bộ "Khâm định Việt sử thông giám cương mục". Phạm Thân Duật nhận thấy rõ quốc sử là cốt tỏ rõ dấu vết hay dở, thuật lại việc quá khứ, để làm gương cho tương lai; đấng thành nhân cân nhắc phải trái, thu góp mọi lời bàn luận, để lưu truyền lời dạy đúng đắn cho đời sau… Nước Đại Việt ta, dựng bờ cõi ở minh đô, sách trời định rõ núi sông, nết đất đúc nên văn vật, vua chúa đời sau thay đời trước, phong khí ngày một mở mang; thời đại không giống nhau, qui mô cũng mỗi thời một khác… Cho người đọc sách này tôn trọng điều đã được nghe, thực hành điều đã được biết, không khác gì chính mình được thân nghe lời dạy bảo của vua... trước là sáng tỏ được dấu thơm "người sáng tác là bậc thánh, người hoàn thành là bậc minh", sau là làm gương sáng để soi việc thịnh suy mãi mãi. (Biểu "Cáo thành" ngày 19-9-1884).
2. YÊU NƯỚC, LO ĐỜI... PHẢI XIN PHÉP TRIỀU ĐÌNH
Trước năm 1885, ít nhất hai thế hệ trí thức Nho học đại thần triều Nguyễn đều đeo một vành kim cô đến thành bi kịch. Chỉ trong vòng chưa đầy một phần tư thế kỷ từ sau sự kiện năm 1862 - thực dân Pháp đến năm 1884 - đã có ít nhất hai trí thức Nho học - Đại thần:
- Một Tiến sĩ khai khoa Nho học Phan Thanh Giản (1790-1867) của vùng đất Nam Bộ - đất mà nhà Nguyễn coi là "căn bản" của vương triều,
- Một Cử nhân của vùng đất khoa bảng bên cửa biển Yên Mô phía bắc Phạm Thận Duật (1825-1885).
Cả hai khác nhau về quê quán, truyền thống sinh hoạt, cách nhau hơn một thế hệ, chung nhân cách của trí thức đại thần, chung niềm yêu nước, thương dân,… Nhưng, ở cuối thế kỷ XIX, đau xót thay, cả hai ông chung nỗi niềm - không dễ nói ra, khi không chỉ chứng kiến mà còn phải thay mặt vua Nguyễn (Tự Đức - trước năm 1883) và Dục Đức (năm 1884) ký vào văn kiện "hòa ước" phủ nhận từng bước đến triệt tiêu độc lập, chủ quyền quốc gia, ngược với lý tưởng, kỳ vọng của sự nghiệp mà cả đời các ông phấn đấu hy sinh !
Với hai hiệp ước năm 1862, rồi 1884, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Tiếp được cử vào Sài Gòn ký Hòa ước 12 khoản với Bonard, thì trước đó ba tỉnh Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long đã mất vào tay Pháp. Tháng 6-1867, thực dân Pháp hội sẵn quân để lấy An Giang, Hà Tiên…
Phan Thanh Giản chỉ còn biết bảo các quan đành chịu nộp thành trì cho khỏi sự tai hại, dặn lại con cái phải cày ruộng mà ăn chứ không được làm quan chức gì ở cho Pháp rồi… uống thuốc độc tự tử.
Không chỉ bậc đại nho như Phan Thanh Giản, mà cả bậc tri thức thời đại - như Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) dâng trình "Tế cấp luận" Thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay, nếu được đem ra thực hành trăm năm cũng chưa hết" (Nguyễn Trường Tộ), "Đầy bụng kinh luân tám đấu tài", mà rốt cuộc, như Huỳnh Thúc Kháng viết, chỉ khiến:
"Người sau nhớ mãi chuyên bi ai
Biển xanh ghi lại châu còn đó
Nghe uất non sông ngay chính đó
Ly tao xua đuổi quốc hồn lai".
Ngẫu nhiên chăng ? Chỉ là bi kịch cá nhân với trí thức Nho học chăng?
Không thời đại nào dân tộc Việt Nam không có tầng lớp trí thức của mình với những phẩm chất dấn thân.
Tuy nhiên trong suốt lịch sử dân tộc, cho đến tận thời Phạm Thận Duật, từ Đại Việt - Đại Nam chỉ nảy sinh trí thức phụ thuộc chặt chẽ vào vua, vào chúa - triều đình (mà có người gọi đó là tri thức cận/ tôi thần[2]), mà không có điều kiện để nảy sinh, dung dưỡng được những thế hệ trí thức độc lập. Đại bộ phận trí thức Nho học Việt Nam chỉ thoái mới vi sư (lui về hay khi cạn hết đường làm quan, tiến thân mới làm thày giáo) mở lớp, hay viết sách, làm thơ, văn… truyền bá đạo Nho, hẹp thì Tống Nho, rộng thì Tam giáo (Phật - Đạo - Nho). Khi con đường đó chưa khép lại, thì đều hăng hái gia nhập quan trường (tiến vi quan) để mong thay đổi thân phận bản thân, gia đình (cũng là kiểu tu thân, tề gia). Người "tốt" thì kỳ vọng dùng tri thức Nho học để hành đạo (trị quốc, bình thiên hạ = góp phần cho đất nước xã hội bình yên, ổn định) qua con đường làm quan triều đình. Nói cách khác, các thế hệ tri thức Nho học Việt Nam, ngay cả đến những đại trí thức Nho học, cho đến thế kỷ XIX không (hay ít) có điều kiện để thực hành, để xây thành thói quen hay thao tác tự thức, truyền bá, khai sáng tư tưởng mới, mà dồn sức, tâm nhiệt huyết, mà đau thiết đến đổ "huyết lệ" - đổ - máu - mắt cho việc tấu, trình kiến nghị, điều trần lên vua, ngửa mong vua chúa "đèn giời" soi xét.
Đấy là cội nguồn sâu xa, tiềm tàng nảy sinh những bi kịch của thân phận cá nhân hay thế hệ tri thức Nho học, mặc dù không phải lúc nào cũng bộc lộ, mà chỉ hiện ra trong những thời điểm cụ thể của lịch sử Việt Nam, chẳng hạn:
Thế kỷ XIII, trước dân tộc đất nước, dẫu phải đối đầu với đế chế Nguyên - Mông xâm lăng hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử trước đó, nhưng triều đình Thăng Long - Đại Việt đậm chất gần dân, thân dân, tin dân với "vua tôi đồng tâm, anh em hoà thuận, cả nước góp sức" đã tạo thành chân trời rộng mở để nâng, chắp cánh không chỉ những trí thức - vua, hoàng tộc như Trần Cảnh, Trần Hoảng, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư,... mà những Tiến sĩ xuất thân bình dân như Lê Văn Hưu, Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh… gắn kết, thống nhất mọi nhiệt huyết, năng lực yêu nước từ trẻ đến già, hết ý nhập thân, phát huy năng lực sáng tạo vào sự nghiệp cứu nước và xây dựng quốc gia, tạo nên năng lượng dân tộc - như làn sóng "vô cùng mạnh mẽ, lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn" của ba lần thách thức sống còn (1258, 1285, 1288) đưa đất nước lên đài vẻ vang trong kỷ nguyên Văn minh Đại Việt.
Hai mươi năm (1407-1427) khi mất nước là nỗi nhục chung của mọi con dân Đại Việt "Căm giặc nước thề không cùng sống" không phải quyền của riêng ai, thì yêu nước, đuổi giặc xâm lăng cũng trở thành con đường tự do với ngàn cách thể hiện của mọi tầng lớp cư dân nước Việt.
Các cuộc nổi dậy khởi nghĩa chống giặc Minh, liên tục, rộng khắp chứng minh điều đó. Thái học sinh (Tiến sĩ) Nguyễn Trãi "xét cho cùng mọi lẽ hưng vong" để đi đến nhận thức "tâm công - không bàn chuyện đánh thành mà đánh vào lòng người" hóa thân thành cương lĩnh Bình Ngô sách của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Mười năm "hiệu gậy làm cờ, tụ tập khắp bốn phương manh lệ, tướng sĩ một lòng phụ tử… trong đấu tranh gian khổ của dân tộc, đã luyện kết và giải phóng năng lực, tri thức của Ức Trai - Nguyễn Trãi "viết thư,thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời" cùng toàn quân, toàn dân đi tới Chi Lăng, Xương Giang "rửa nỗi nhục ngàn thu", đi tới Hội thề Đông Quan, đại cáo Bình Ngô "cổ kim chưa từng nghe thấy".
Đấy là một thời!
Nhưng không phải thời nào cũng thế!
Nửa cuối XIV, gần trăm năm sau những hào sảng Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù (1285), chỉ hơn chục năm sau thời kỳ "nở rộ nhân tài" - thế - hệ - vàng - ròng trí thức như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn… thì bậc Vạn thế sư biểu Chu Văn An với nhiệt thành tâm huyết kiên cường mấy, bất khuất mấy cũng chỉ là dâng sớ Thất trảm lên vua, để rồi ngậm ngùi về mở trường tư dạy học. Cũng chỉ hơn chục năm sau ngày "mở nền thái bình muôn thuở" cho sơn hà Đại Việt, Thừa Chỉ Nguyễn Trãi đã phải di hận kỷ thiên niên vào năm 1442… trước đám triều đình Lê - mà chính thế hệ ông đã dâng hiến toàn bộ trí năng, tâm thành của tuổi thanh xuân để dựng gây nên…
Và, thế kỷ XVIII đâu chỉ có riêng bi kịch của Tiến sĩ Thái thường Bùi Sỹ Tiêm - với huyết lệ Điều trần về những việc cần - làm - ngay trước nhiễu nhương tham nhũng, cậy thế, cậy quyền của đám triều chính thời vua thì Lê, chúa thì Trịnh v.v…
Năm 1802, sau những binh đao chia cắt, loạn ly (nội chiến đàng Trong, đàng Ngoài - thế kỷ XVII, lại cuộc chiến từ giữa Tây Sơn với chính quyền Nguyễn Ánh (cuối XVIII)… lần đầu tiên Việt Nam được thống nhất trọn vẹn dưới triều Nguyễn Ánh - Gia Long…
Những tưởng sau bao nhiêu mất mát, một thời kỳ mới đã mở ra "Vua dân cùng một dạ, chim cá cùng lòng" (Lê Huy Giao - Bài hịch dụ các người trung nghĩa miền Bắc). Nhưng, thay vì một trang sử huy hoàng của dân tộc, của những thế hệ đã đầu sóng, ngọn gió trên chiến thuyền, yên ngựa, qua mũi tên, hòn đạn dựng lên nhà Nguyễn, thì chỉ gần 20 năm sau, tháng 5 năm Tân Tỵ (năm 1821), thế hệ thứ hai của nhà Nguyễn, Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi (vua Minh Mạng 1820-1840) cho đặt Sử quán, dù viết rất rõ rằng: "Nước phải có sử để làm tin ở đời này mà truyền lại đời sau,… Nước nhà ta Thái Tổ gây lên, liệt thánh nối trị hơn 200 năm... Thế tổ Cao hoàng đế ta thống nhất non sông, mở mang trăm phép... Trẫm mới thân chấp chính, nghĩ việc chí chuộng việc văn, làm việc đều theo sử cũ. Mỗi khi xét việc lại đăm nghĩ đến việc nối dòng nối nghiệp"[3]. Nhưng, công trình đầu tiên được soạn là "Liệt thánh thực lục"[4], gồm:
Tiền biên ghi chép về sự nghiệp của 9 chúa Nguyễn bắt đầu từ Nguyễn Hoàng (Thái tổ Gia dụ hoàng đế) vào trấn thủ Thuận Hóa (năm 1558) đến hết đời Nguyễn Phúc Thuần (Duệ Tông Hiếu Định hoàng đế - năm 1877).
Chính biên viết về các vua triều Nguyễn bắt đầu (kỷ thứ nhất) về đời Gia Long từ năm 1778 đến năm 1819[5]. Cũng thời gian này, Minh Mạng chuẩn y lời tâu xin của bộ Lễ "chưa vội đem Việt sử liệt vào chương trình dạy học và thi cử".
Mãi đến năm 1856 - tức là hơn nửa thế kỷ thống nhất quốc gia, vua Nguyễn Hồng Nhậm - Tự Đức, gần 10 năm ở ngôi mới cho biên soạn Khâm định Việt sử thông giám cương mục.
Vẫn biết, vương triều phong kiến ở Việt Nam là đặt theo dòng họ (nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê), nước là nước của họ Vua… Nói như tri thức bác học hóa dân gian truyền tụng "Nam quốc sơn hà Nam đế cư"… nhưng hẳn chưa bao giờ quan niệm quốc gia, đất nước là của riêng dòng họ liệt thánh thực lục lại hóa thành Đại Nam thực lục tức là cha mẹ anh em vua trước / trên rồi mới đến, mới thành đất nước, quốc gia, chúng dân... rõ ràng như từ thời Minh Mạng - với tái độc tôn giáo lý Tống Nho, trở đi.
Vua, hay triều đình - lúc đó thành độc quyền chân lý. Giáo lý Tống Nho từ thời Lê Thánh Tông (1460-1497) tiếp tục trở đi thành vòng Kim cô, đã thít, khép lại chân trời của những cánh chim trí thức tự chủ, sáng tạo. Không phải ngẫu nhiên khát vọng tự do của toàn thể dân chúng, vốn được cất lên "bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán" - như Nguyễn Hữu Cầu tuyên ngôn từ giữa thế kỷ XVIII vẫn tiếp tục được đồng cảm, sẻ chia, khao khát trong những thế hệ trí thức Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… Và đội ngũ đó vẫn phải đau lòng trước "điên đảo non sông nhòa lối cũ. Âm thầm đất nước, ngậm bi thương" (Thơ viếng Cao Bá Quát của Nguyễn Văn Siêu) cuối thế kỷ XIX.
Cũng không phải ngẫu nhiên, mà khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã ngang nhiên xâm phạm chủ quyền, nổ súng tấn công Đà Nẵng (1-9-1858) hay khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ (1862-1867) rồi tấn công thành Hà Nội (1873, 1882...) phong trào yêu nước, chống Pháp của một tầng lớp chúng dân sôi nổi khắp mọi nơi... nhưng vành kim cô ấy vẫn buộc ràng hành động của những Tam Đăng Phạm Văn Nghị, Hoàng Diệu, Tiến sĩ Trần Tấn, Đặng Như Mai...
Phạm Thận Duật từng khóc viếng Phó bảng, Thượng thư, Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu (1828-1882) "cô thần một chết tấm trung phơi" trong cuộc chiến bảo vệ thành Hà Nội… Phạm Thận Duật từng hóa thân đồng cảm, sẻ chia hết mực nhân văn vào, với bao nhiêu nhân vật khác trong đạo hiếu, nghĩa huynh đệ, nghĩa quân thần… trong suốt cuộc đời minh với người khác (Theo thống kê trong Quan Thành văn tậpcủa ông, còn lại ít nhất 110 câu đối, 12 bài thơ, 42 bài văn tế, văn bia, tấu biểu) cũng không thoát khỏi thân phận "cô thần" trong đám triều đình Nguyễn.
Thế nhưng, chính ông, Chánh Khâm sai Phạm Thận Duật lại phải đặt bút vào kỳ với Patonôtre văn bản năm 1884 ! Bi sót đến chừng nào!
3. CHÚNG DÂN, NÚI SÔNG CHẮP CÁNH
Năm 1884, Kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi được bộ phận kháng chiến đưa lên Sơn phòng, phát hịch "Cần Vương".
Dù khẩu hiệu vẫn là Cần Vương (giúp vua, phò vua), nhưng trong bản chất là lời kêu gọi, là lời quy tụ giải phóng, tổ chức, phát huy mọi nguồn lượng năng, trí năng của toàn thể mọi người: "Người trí thì hiến mưu, người dũng hiến sức, kẻ giàu bỏ của ra giúp quân nhu, đồng bào, đồng trạch chẳng từ hiểm nguy, có thể làm được gì thì làm nấy, Những ai cứu nạn phò nguy đỡ khó, chống đổ, chớ tiếc lòng, tiếc sức… chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại giang sơn bờ cõi. Trong cơ hội này, phúc của tôn miếu xã tắc là phúc của bàn dân, cùng lo với nhau, cùng hưởng với nhau. Nhược bằng cái tâm sợ chết hơn cái lòng yêu vua, sự nghĩ cho nhà hơn lo cho nước, làm quan thì mượn cớ tránh xa, đi lính thì bỏ ngũ lẩn trốn, người dân không biết trọng nghĩa cứu cấp việc công, kẻ sĩ cam bỏ chỗ sáng đi vào chỗ tối thì dù không phải là sống thừa ở đời, song mặc áo đội mũ mà là muông là thú,…".
Nếu những người áo vải Nam Bộ "việc cuốc, việc cày, tay vốn quen làm" tiếp tục tinh thần Nguyễn Trung Trực, Trương Định,... rồi lan cả miền châu thổ sông Hồng theo Hoàng Hoa Thám lên Yên Thế kháng chiến, thì từ đó trí thức Nho học không còn nữa những đại thần - trí thức yêu nước như Phạm Thận Duật phải ràng buộc với cái áo, mũ triều đình, để ngay đến thể hiện lòng yêu nước cũng phải xin phép vua, theo ý vua. Trước mắt họ chỉ còn Tổ quốc, quê hương Việt Nam đang lâm nguy!.
Khát vọng "Ta nay quyết kéo trời Nam lại, kẻo để giang sơn đổ lộn nhào..." được thể hiện thành những:
+ Cử nhân, Án sát Thanh Hóa Phạm Bành (1825-1887)và Đinh Công Tráng dựng căn cứ Ba Đình.
+ Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn (1830-1889) khởi nghĩa ở Nghệ An.
+ Hoàng Giáp, Chánh sứ sơn phòng, Tuần phủ Hưng Hóa - Nguyễn Quang Bích (1832-1890) kháng chiến ở Phú Thọ, Yên Bái.
+ Tú Tài Nguyễn Thiện Thuật (1841-1926) lập căn cứ Bãi Sậy.
+ Tiến sĩ - Ngự sử đô sát viện Phan Đình Phùng (1844-1895), Cao Thắng, lên rừng lập căn cứ Vụ Quang…
+ Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) ở Quảng Nam.
+ Tiến sĩ, Chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa Tống Duy Tân (1837-1892) ở miền núi Thanh Hóa.
+ Cử nhân Mai Xuân Thưởng (1860-1887) ở Bình Định.
+ Tú tài võ Tạ Quang Hiện ở Thái Bình, Nam Định…
Để rồi, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thế hệ trí thức Nho học - thế hệ của buổi giao thời không chỉ cùng chúng dân đứng lên chống thực dân Pháp mà đã có thể chuyển hẳn sang, thống nhất giữa tự do nhận thức và hành động, tìm kiếm con đườngcanh tân cứu nước, cứu dân như thế hệ Lương Văn Can (1854-1927), Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Chu Trinh (1872-1926)…
***
Không nghi ngờ gì, các vua Nguyễn, từ Nguyễn Ánh - Gia Long, Minh Mạng… nhất là đến đời vua Nguyễn Hồng Nhậm (Tự Đức) sau sự kiện Đà Nẵng (ngày 1-9-1858) đã nhìn càng ngày càng thấm hơn âm mưu và tham vọng của thực dân tư bản Pháp nhòm ngó và sẵn sàng dùng vũ lực với Việt Nam.
Nhưng, điều cơ bản, quan trọng sống còn, là triều đình Nguyễn không có đủ năng lực để tập hợp sức mạnh toàn dân để vượt qua thử thách này.
Không phải là Nho giáo mất đi tính tích cực trên phương diện đạo đức và cách xử thế. Nhưng, như chính Phạm Thận Duật viết "miệng muốn nói, hãy nói bằng miệng của người xưa, Tay muốn viết, hãy viết bằng tay của người xưa" mà trong bản chất hệ tư tưởng của Nho ngay từ trong hình thành và vận động của nó luôn luôn tồn tại nghịch lý sau:
+ Với ý nghĩa là những khát vọng - giá trị vĩnh hằng của cuộc sống con người trong đời sống xã hội, thì những giáo lý của đạo Nho như - không - bao - giờ "lạc hậu" dù ra đời đã hàng ngàn năm trước. Nhưng, một đương nhiên khác là không phải chỉ những thế kỷ sau, mà ngay từ quá trình hình thành tư tưởng Nho giáo đã luôn luôn bất cập, ảo tưởng trước thực tế ! (mà có những nghiên cứu cho đó là bảo thủ và lỗi thời không còn khả năng giúp con người nhận thức, lý giải và giải quyết những vấn đề thực tiễn).
Nhưng không chỉ các triều đình phong kiến Trung Hoa, mà các triều đại phong kiến ở Việt Nam mọi thời, đều luôn lấy nó làm trụ cột tư tưởng để bên ngoài thì tuyên bố "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" (Tu dưỡng bản thân, cho gia đình yên ấm, đất nước thịnh trị, xã hội yên bình) mà bên trong thực chất là duy trì quyền lực, quyền lợi của triều đình với một "ràng buộc" trước hết và cao nhất nhưng cũng ảo tưởng nhất là Trung quân (Trung với vua).
Không nên quên rằng ngay cả những ông vua khai sáng triều đại xuất phát vốn không hề biết đến chút giáo lý Nho học là gì như họ Trần, họ Mạc… thì quá trình lên đến ngai vàng và giữ ngai vàng vẫn luôn miệng dẫn ra, cần đến ít ra là vài câu kinh điển Nho học, lấy đó để "trị" người, lấy đó để ràng, buộc lòng người, và tìm kiếm kẻ "trung thần".
Nửa cuối XIX, trước họa xâm lược của thực dân Pháp đến từ một nước tư bản phương Tây, từ một nền văn minh công nghiệp với nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân, với lối đánh chưa từng có trong binh thư phương Đông.
Đây là lần đầu tiên dân tộc Viêt Nam phải đương đầu với một đối tượng xâm lược mới, trong một bối cảnh lịch sử mới mà những kinh nghiệm cổ truyền cần được vận dụng trong một phương thức đấu tranh mới ! Đúng.
Nhưng điều đó đâu quyết định nguyên nhân mất nước
Kẻ xâm lược nào đến nước này chẳng đều giàu mạnh, khổng lồ, tàn bạo !
Nhưng dân tộc Việt Nam đã không chỉ dám đương đầu thử thách, mà còn đi đến những trận chung kết toàn thắng không phải chỉ một lần.
Không nên quên rằng, trong lịch sử thời An Dương Vương, chính quyền Cổ Loa - Kẻ Chủ có nỏ thần, thời Hồ Quý Ly từng có Thần công, có lâu thuyền, có thành Tây Đô, phòng tuyến Đa Bang... như hơn hẳn kẻ thù !. Thì... cả hai lần cơ đồ Âu Lạc, Đại Ngu đắm biển sâu. Vũ khí quân sự đâu phải là sức mạnh bao trùm, làm nên sức mạnh quyết định chiến thắng của triều đình, dân tộc.
Quan trọng hơn cả, quyết định hơn cả là cái triều đình cuối XIX đó đã không chỉ không gần dân, tin dân, mà đã đến mức sợ dân. Chân trời khoáng đạt của tự do, chắp cánh cho năng lực quyền biến, năng lực phản biện, năng lực sáng tạo, bị khép lại, bóp chặt lại… khiến nguồn năng lực vô giá mà chỉ có ở lòng dân, sức dân, trí dân không được phát huy, tổ chức và nhân lên để thành THƯỢNG SÁCH GIỮ NƯỚC -như di huấn, chân lý mà Đức - Thánh - Trần đã chắt/ vắt mình truyền lại.
Chỉ đến phút cuối cùng khi cái đám triều đình nhân danh cái giáo lý đó, ngụy trang bằng cái giáo lý đó, bị tan theo tiếng đại bác của giặc Pháp dùng cái giáo lý đó, khi cái giáo lý, giáo điều độc tộc, xơ cứng ấy sụp đổ, đã đặt dấu chấm hết cho chương khúc bi ai của trí thức Nho học trong lòng phong kiến.
[1] Những lời của Phạm Thận Duật trong bài viết này (in nghiêng) là được dẫn theo bản dịch trong Phạm Thận Duật toàn tập (Phạm Đình Nhân biên soạn và tổ chức bản thảo), Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000.
[2] Xem Giá Văn Dương, Tri thức cận thần và tri thức độc lập, TuầnVietnam.net, ngày 30-8-2010.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên, đệ nhị kỷ, q. IX, Bản dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 133.
[4] Mà sau này khi công bố mang tên Đại Nam thực lục chính biên và tiền biên.
[5] Phần Tiền biên hoàn thành việc khắc in năm 1844, do Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cần làm Tổng tài. Phần Chính biên, gồm 6 kỷ, trong đó có 4 kỷ hoàn thành trong thế kỷ XIX.
|
Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013
TỪ YÊU NƯỚC PHẢI XIN PHÉP, ĐẾN... (HAY LÀ KHÚC BI - TRÁNG CỦA TRÍ THỨC NHO HỌC VIỆT NAM NỬA CUỐI XIX)
Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013
Ngọn Tháp Eiffel ngả mình ngang dòng sông Hồng
Ngọn Tháp Eiffel ngả mình ngang dòng sông Hồng
"Hà Nội có cầu Long Biên
Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng
Tầu xe đi lại thong rong..."
Câu thơ viết tựa đồng dao ấy với thế hệ chúng tôi dường như những đứa trẻ Hà Nội nào cũng thuộc. Nó được đọc lên như một niềm tự hào. Khi đó cả Hà Nội chỉ có một chiếc cầu duy nhất vượt qua sông Hồng. Vào thời điểm nó được xây dựng thì quả thực đó là niềm tự hào của cả xứ Đông Dương thuộc địa của nước Pháp. Hồi đầu thế kỷ XX, với chiều dài kết cấu hoàn toàn bằng thép không tính hai đầu cầu dẫn, cầu Long Biên ban đầu mang tên viên Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer được coi là một trong những chiếc cầu lớn trên thế giới và đương nhiên khi đó nó lớn nhất trong khu vực.
Hồi đó người Pháp ca ngợi đó là "chiếc cầu nối liền hai thế kỷ". Bởi lẽ nó được khởi công vào năm 1898 và khánh thành vào năm 1902. Xây cầu Long Biên mục đích chủ yếu của người Pháp là để con đường sắt từ thành phố cảng Hải Phòng vượt sông Hồng để nối với Vân Nam của Trung Quốc. Người viết sử còn chép rằng, xây xong cầu Long Biên thì thành phố Hà Nội phát triển một cách đột biến... Đó là thời nước Pháp tiến hành cuộc Khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
Cầu lúc đầu chủ yếu dành cho xe lửa và hai bên có đường cho người đi bộ và một vài loại xe thô sơ khi đó còn rất thưa thớt , chủ yếu là xe tay (xe kéo pousse-pousse). Phải đến những năm 20 của thế kỷ trước, khi ôtô đã du nhập và ngày càng phổ biến hơn thì con đường hai bên mới mở rộng như khuôn khổ hiện nay.
Những bài báo cũ hay ký ức của những người rất già kể lại rằng thuở ban đầu con đuờng đi bộ hai bên cầu Long Biên một thời đã trở thành một con đường dạo mát đẹp nhất của thành phố Hà Nội, bắt đầu từ phồ Tràng Tiền khởi hành từ Bờ Hồ ra tới toà nhà bảo tàng của Trường Viễn Đông Bác Cổ (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam) chạy dọc bờ sông khi đó chưa đê mà chỉ đóng kè (Quai Clemenceau) rẽ lên cầu sang bên Gia Lâm rồi quay về rồi lại dọc sông lên đến đầu dốc Yên Phụ xuôi bờ Hồ Tây đi vào khu Bách Thảo nằm sát khu vực hành chính đầu não ... Đó là buổi ban đầu khi cây cầu mới dựng.
Nhưng chính cầu Long Biên đã trở thành một nhân tố thúc đẩy đô thị Hà Nội phát triển. Dân số trở nên đông đúc. Cơn lũ lịch sử năm 1925 , 1926 khiến người ta phải dựng lên một con đê chắn tầm mắt nhìn ra dòng sông khiến thành phố này quay lưng lại với dòng sông của mình... Rồi chiến tranh liên miên, cầu Long Biên trở thành huyết mạch chiến lược giao thông phải oằn mình chịu những tàn phá của chiến tranh.
Chiêc cầu này đã từng bị nghiêng vì những dòng chiến xa thực dân điều quân từ trong thành phố sang sân bay Gia Lâm để tăng cường cho chiến trường Điện Biên Phủ... Rồi vào những ngày thu năm 1954, Cầu Long Biên lại chứng kiến cảnh đoàn quân viễn chinh thực dân rút khỏi Hà Nội ra đường 5 để xuống tàu ở cảng Hải Phòng và ở chiều ngược lại, những đoàn quân chiến thằng từ chiến khu trở về giải phóng Thủ đô...
Khi chiếc cầu này sắp bước vào tuổi 70 lại chính là lúc nó phải chịu đựng những thử thách khốc liệt nhất . Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đã đánh thẳng vào Thủ đô Hà Nội và cầu Long Biên trở thành một mục tiêu quan trọng hàng đầu. Không biết bao nhiêu bom đạn và các loại tên lửa hiện đại nhất của không quân Mỹ đã nhằm vào khối sắt thép này. Nhiều trận đánh dữ dội đã diễn ra, nhiều nhịp cầu đã bị sập, nhiều máy bay Mỹ đã bị rơi, nhiều chiến sĩ và dân quân đã hy sinh bên mâm pháo hay trận địa tên lửa. Khu dân cư bên bãi Phúc Tân sát chân cầu bị bom Mỹ triệt hạ v.v... Rồi những chuyễn xe ca chở tù binh Mỹ từ những nhà tù "Hilton Hà Nội" qua cầu này để lên máy bay về nước trong những đợt trao trả tù binh...
Hoà bình đựơc lập lại, nhưng chiếc cầu thì đã già nua lại đầy mình thương tích. Nó tiếp tục oằn mình chịu đựng sức nặng ngày càng tăng cùng với sự phát triển của thủ đô và đất nước cho đến khi hai chiếc cầu lớn là Thăng Long ở thượng lưu và Chương Dương ở hạ lưu hoàn thành. Đứng trên cầu Long Biên nhìn ra phía xa sẽ thấy được những thay đổi to lớn của Thủ đô ngày càng hiện đại với những đường viền của những khối nhà cao tầng hay những cần cẩu vươn lên trời cao. Nhưng nhìn xuống những nơi cận kề và ngay chính thân thể của mình, Cầu Long Biên và không gian quanh nó lại chính là hội tụ những bức xúc nhất của một thành phố đang chuyển đổi và phát triển. Nó vận động suốt ngày đêm dường như không nghỉ với sự lam lũ, bươn chải, giành giật , chịu đựng và chờ đợi một lúc nào đó sẽ thay đổi...
Những năm tháng này, người ta đã bàn nhiều đến một dự án hiểu tắt là "cải tạo hai bờ sông Hồng". Biết bao nhiêu hy vọng và lo lắng đang nung nấu. Rồi mới đây nhất, tin Hà Nội sẽ mở rất rộng lại chống chất thêm những lo lắng và hy vọng...
Lại có nhiều quán ăn và nhất là những quán giải khát hat cà phê để đựoc hưởng giớ mát và ngắm nhìn toàn cảnh của một thành phố nằm bên hai bờ của Sông Hồng và trải tầm nhìn tới tận ngọn núi Tản Viên linh thiêng vẫn là đất đai của Hà Nội...Không có đựoc tầm cao như Tháp Eifel ở Paris kinh đô nước Pháp nhưng nếu được ngồi trên lưng cầu hay trên đỉnh một trong những nhịp cầu ta cũng có thể có cảm giác tương tự.
Ở thân cầu nay có một tấm bia đồng đúc tên những đơn vị tham gia xây dựng công trình này và không hề có tên của Eiffeil. Nhưng nếu có ví von rằng "Cầu Long Biên giống như ngọn tháp Eiffel ngả mình ngang dòng Sông Hồng" thì hẳn cũng không phải là điều không thể chấp nhận được .
- Dương Trung Quốc
Hồ Tây xưa và nay
Hồ Tây xưa và nay
LTS: Nhà thơ Hoàng Cầm sáng tác bài thơ này như để chia sẻ nỗi lo lắng chung của chúng ta trước nguy cơ cảnh đẹp kỳ vĩ và thơ mộng của Hồ Tây, cũng là lá phổi xanh lớn nhất của Thủ đô đang hàng ngày hàng giờ bị xâu xé bởi tính thực dụng, ý muốn làm giàu bằng mọi giá của một số người và sự vô trách nhiệm của những người quản lý thiếu năng lực.
Hồ Tây xưa
Anh biết em thèm trăng nước thu
Thuyền dong muốn lạc mãi sương mù
Hạ buồn che bóng đôi e ấp
Mê rập rềnh trôi... thuở lãng du
Nhớ ngọn nguồn thơ xanh diệu kỳ
Tĩnh Đô vương gảy nhẹ thuyền đi
Rủ thêm tể tướng ròn xên phách
Rượu tưới ca trù tẩm ái phi
Hồ Tây nay
Lệnh Chúa mở tưng bừng vũ hội
Mời Sơn Tinh kén vợ thời trang
Thần mưa vung vãi si-li-cát
Thần gió mò trăng nũng nịu vàng
Sơn Tinh ngao ngán vắt tay trần
Ngang trán thời gian hỏi cố nhân:
- Ai xóa chân trời xanh dã xử
Để Tây Hồ choáng lộn phù vân?
Chúa nói kiếp sau ngày Khánh hạ
Ta rời thiên chức chớp thiên cơ
Tung tình trinh nữ cong vương miện
Phơi kín hồ xiêm yếm nõn tơ
Đẩy mạnh đô thành nhanh dịp múa
Thúy Kiều sao thoát nợ lầu xanh
Vắng tanh Từ Hải chìm Kim Trọng
Hồn Đạm Tiên thêm bạn lữ hành
Im bặt sâm cầm mất hút xuân
Lầu cao lộng gió có dung thân?
Dâm Đàm giam lỏng đầm trâu lội
Trấn Võ dềnh... chuông sóng giật gân
Bê-tông teo gió hồ co quắp
Ngơ ngác Ba Vì lẩn chớm đông
Phơi phới Thị Mầu sư chếnh choáng
Hồi xuân Thị Kính lấy thêm chồng
Phận gái nghèo đành cởi thanh y
Cậy Xuân Hương thương kiếp nô tì
Mớm em dăm chữ lừ tia chớp
Xé màn đêm... đêm cứ li bì
Thêm hận Nàng Trăng không chỗ mọc
Biết đâu em xế cõi mây nào?
Đêm rằm may lắm treo meo mốc
Tròn mắt soi gì xuống đáy ao?
Thử hẹn mười năm nữa nhớ về
Nơi nào muối đổ xát lòng quê
"Tây Hồ"... (ô...ô) hai tiếng nghe thăm thẳm
Tiền kiếp xa mù thuở Hậu Lê
Thôi em! Gì đẹp thường ơi hỡi!!!
Lãng Bạc em rồi bạc tóc anh
Số phận Hồ Tây là ấy thế
Đi từ bát ngát đến mong manh.
Tháng 9/1995
- Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay, Số 32, Tháng 10-1996.
Vị thế địa – văn hóa nghìn xưa
Vị thế địa – văn hóa nghìn xưa
Hà Nội là gì? Có thể đưa ra nhiều câu trả lời, nhiều cách trả lời với dạng vẻ khác nhau của tiếp cậnliên ngành.
Có thể có câu trả lời theo kiểu dân gian truyền thống, rằng Hà Nội là mảnh đất.
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
Người Đông Đô đã khéo "quy hoạch" cho thành phố quê hương.
Khen ai khéo họa dư đồ,
Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm.
Có thể có câu trả lời của Lý Thái Tổ trong tờ chiếu dời đô đầu xuân Canh Tuất khi cả triều đình Đại Việt nhộn nhịp dời đô từ khu Hoa Lư, miền Tây Nam châu thổ sông Nhị (trở) về nơi:
"Ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế Rồng cuộn Hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sau sông trước. Ở nơi đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phong nhiều tươi tốt. Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thực là chỗ bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất (thượng đô) của vương đế Muôn Đời".
Có thể có câu trả lời của nhà thơ thời Trần Phạm Sư Mạnh (đầu và giữa thế kỷ XIV):
Trấn áp Đông Tây, vững đế đô
Hiên ngang một tháp trội nguy nga
Non sông bền chặt Cột Trời chống
Kim cổ khó mòn dùi Đất nhô.
Cũng vẫn là sự ngôn từ hóa cái ý trung tâm và vòi vọi (Đề tháp Báo Thiên).
Cũng có thể có câu trả lời ông nghè thời Lê Nguyễn Giản Thanh có làm quan thời Mạc (cuối XV đầu XVI):
Sum một chốn y quan lễ nhạc
Trời đượm khí Xuân, sắc tươi tốt khắp hòa vũ trụ
Nước mừng thịnh trị, thế vững vàng chống cột Thần kinh
Nhớ xưa:
Cõi giữa Bang Trung.
Đứng trên thượng quốc.
Đỉnh Tản Sơn hùm chiếu Tây Nam
Dòng Nhị Thủy rồng chầu Đông Bắc.
Chợ nhà nhà, trăm dáng tựa đồ bôi tám bức.
Thành thành thị thị, nguồn té chen thức ánh nguồn hồng.
... Hướng bốn phương cùng họp đất này, giữa chưng thiên hạ;
Hòa mỗi chốn đều đô đấy, ngăn được thế hình.
... Những thấy: đời đời thành (Long) phụng ấy,
Kiếp kiếp sắc (Thái) Xuân này
Con con cháu cháu dõi truyền đến chưng muôn vạn ức!
(Phụng thành Xuân sắc phú (nôm)).
Ở bài Phú Nôm này, ta vẫn thấy sự phát triển của tư duy phong thủy về một mảnh đất có "tay long, tay hổ": Rồng cuộn Hổ ngồi từ bài Chiếu dời đô của vua đầu nhà Lý; cũng có cái tư duy dân gian về "Trước-Sau" mặt tiền mặt hậu của một đô thị: Cái mặt tiền ấy của Thăng Long là Sông Nhịvà, cùng với núi Tản Viên, đấy là hai biểu tượng của cả châu thổ miền Bắc quê hương buổi đầu của người Việt, nơi hình thành những nhà nước đầu tiên (cổ đại) và những nhà nước trung hưng trở lại (trung hiện đại). Những tư duy đô thị Đại Việt này được xác lập vững vàng trong các tác phẩm về sau, như Thượng kinh phong vật chí (lầm là của Lê Quý Đôn, thật ra là của một tác giả vô danh đầu thế kỷ XIX) hay Tây Hố chí (vô danh, XIX)...
Bản đồ thành Hà Nội thời Lê.
Ở những tác phẩm này cũng như Hà thành thất thủ ca (cuối XIX) ta đã thấy nổi bật lên hai biểu tượng: Núi Nùng và Sông Nhị:
Núi Nùng, sông Nhị chốn này làm ghi...
Và ngoài sông núi, các tác gia thế kỷ XIX còn nhấn mạnh một nét cảnh quan sinh thái nhân văn khác của Thăng Long - Hà Nội, đó là Hồ: Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm (hay hồ Tả Vọng thời các chúa Trịnh...).
Đặt Hà Nội trong một bối cảnh rộng lớn hơn - Bắc Việt Nam - nhà địa lý học Nguyễn Thiệu Lâu (trong Một ít nhận xét về Hà Nội - Tập san Đại học Sư phạm Văn khoa) nhận xét rằng: Hà Nội là thủ đô tự nhiên của miền Bắc Việt Nam: Các mạch núi Tây Bắc - Đông Bắc đều dồn về đây rồi lan tỏa và do vậy các dòng sông đều tụ hội về đây rồi lan tràn xuống biển Đông. Đi vào chi tiết hơn và theo lý thuyết mô hình hiện đại, Vũ Hữu Minh và tôi đã tìm ra cái "mộc" (bouclier) đất vững chắc của Hà Nội và cụm núi Voi - núi Cung (đấy cũng là điểm cao nhất của đất Hà Nội - cốt 12m), là địa hình Dương quy định hệ địa hình âm là Hồ Tây (vốn là một khúc uốn dạng móng ngựa cũng như hồ Cổ Ngựa (đã bị lấp) - của sông Hồng) cùng với các sông Thiên Phù (đã bị lấp), Tô Lịch, Kim Ngưu... Mô hình Hà Nội được chúng tôi dựng như sau:
Toàn cảnh khu trung tâm thành cổ Hà Nội khoảng năm 1875-1877,
có thể thấy rõ Kỳ Đài, Đoan Môn, Kính Thiên, Bắc Môn.
Đây là tư duy "Tứ giác nước" của riêng Hà Nội và của chung nhiều đô thị cổ Việt Nam, như Cổ Loa, Hoa Lư, Huế... hay tư duy về con sông trước và con sông sau (thường bị xem nhẹ) của một đô thị Việt Nam. Trong trường hợp Hà Nội: Sông Nhị là sông trước và sông Tô là sông sau. Từ mô hình đó, đối chiếu với thực tế, chúng tôi phát hiện ra rằng các cửa ô cơ bản ngày trước của thủ đô Hà Nội đều là Cửa Nước (đúng nghĩa của khái niệm Wategate), ví dụ: Ô Cầu Giấy nằm ở ngã ba Tô Lịch - Kim Ngưu, Ô Đồng Lầm (Kim Liên) nằm ở ngã ba Kim Ngưu - Sét, Ô Đống Mác (Thanh Nhàn) nằm ở ngã ba Kim Ngưu - Lừ, Ô Bưởi (Hồng Tân của Tây Hồ chí) nằm ở ngã ba Tô Lịch - Thiên Phù...
Đây là một nhận xét quan trọng về nhiều mặt. Từ đó ta hiểu các chợ ven đô hay chợ ô nằm ở các cửa nước của thành Ngoại (La Thành hay Đại La thành trong sử sách từ thời Lý dài hơn 30km), đấy là nơi giao lưu kinh tế văn hóa giữa nội thành (kinh thành) với vùng ngoại thành rộng lớn ở châu thổ Bắc Bộ và đấy đều vốn là chợ bến - chợ búa, nghĩa là chợ ở ngã ba sông, trên bến dưới thuyền tấp nập... Cũng từ đó, ta hiểu công việc nạo vét sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu của các triều đại ngày trước cùng nguyên nhân sâu xa của cảnh ngập lụt của Hà Nội hôm nay vào mùa mưa, khi nhiều sông kênh cấp thoát nước bị lấp và tình trạng nguy hiểm của việc lấn chiếm đất ven sông hồ... Việc khai thông lại các sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Lừ, việc chống lấn chiếm đất, giải tỏa các công trình xây trên lòng sông cũ (như ở ngã ba Hồ Khẩu) dọc dải sông Tô từ Thụy Khuê xuống Bưởi... là một công việc "cần làm ngay", rất bức bách...
Một khi từ miền Bắc Việt Nam đất cổ và đất Tổ, do áp lực dân số và do chiến tranh, từ trong lòng xã hội Việt nổi lên một trào lưu năng động Nam tiến suốt ngàn năm lịch sử (từ X đến XIX). Theo với quá trình Nam tiến đó, là sự tạo dựng các đô thị mới, như Huế, Đà Nẵng - Hội An, Sài Gòn... chúng vẫn mang một mẫu số chung với Hà Nội cổ truyền là thuộc loại hình Đô thị sông. Nhưng chúng cũng mang một nét bản sắc mới: Đó là những cảng thị ven sông biển. Tôi đã nêu lên tư duy về một nền văn hóa cảng thị là cái "mặt tiền" của văn hóa miền Trung (mặt hậu, là văn hóa xóm làng). Hà Nội cần có những tiền cảng thị, ở thế kỷ XVII-XVIII là cảng thị sông Phố Hiến với câu ca để đời:
Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến.
Và đến cuối XIX - đầu XX đó là cảng thị Hải Phòng mà giờ đây cái nhìn chiến lược kinh tế mới đã nói đến Khu tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Hà Nội đã nhiều phen bị mất (hay đe dọa bị mất) vai trò Thủ đô (như thời gian cuối XVIII - gần hết XIX). Người Hà Nội khi ấy đã nhận thức lại sâu hơn về vị thế địa văn hóa của mình và vẫn nói:
Long Thành thật xứng Cố Đô
Kim Âu chẳng mẻ cơ đồ dài lâu.
Huế, Sài Gòn đã từng có lúc đóng vai trò Thủ đô, của cả nước hay của một miền và ở nửa sau thế kỷ XX chúng trở thành trung tâm của từng vùng miền của nước Việt Nam. Không nên nói rằng Huế là kinh đô của Việt Nam cho đến năm 1945. Ngay ở nửa cuối thế kỷ XIX một tác giả Pháp đã viết: "Hà Nội vẫn là trái tim của cả nước" cho dù Huế đã là kinh đô Việt Nam từ 1802. Và dưới thời Pháp thuộc, Hà Nội (chứ không phải Huế, Sài Gòn) là Thủ đô của cả Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp, bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Miên).
Tới 1945 với Cách mạng tháng Tám, Hà Nội lại trở thành Thủ đô của cả nước Việt Nam. Rồi từ cái mốc 1975 lịch sử...
Lịch sử đó khi Tụ khi Tán. Huế và Sài Gòn nảy sinh và phát triển ở thời kỳ Ly tán đó. Và cũng vì Việt Nam địa thế hẹp chiều ngang Tây - Đông, rộng chiều dài Bắc - Nam. Cái nhìn Địa - Lịch sử (geohistorique) sẽ cho ta thấy: Sự kiện lịch sử lớn (Nam tiến) phối hợp với không gian địa lý (địa bàn) của một cư dân nông nghiệp lúa nước vùng châu thổ đã tạo dựng nên hình dạng kỳ lạ độc đáo của nước Việt Nam hiện tại. Hà Nội chia sẻ quyền uy kinh tế với trung tâm miền Trung và miền Nam. Huế, Sài Gòn cũng mang chở - bên sắc thái chung của Việt Nam như Hà Nội - những sắc thái văn hóa riêng ngưng kết của một Vùng - Miền: Miền Trung, miền Nam. Bản sắc văn hóa Hà Nội là bản sắc chung của văn hóa Việt Nam song trước hết là sự kết tinh của văn hóa châu thổ sông Hồng. ư
- Nguồn: Trần Quốc Vượng, Tạp chí Xưa & Nay, Tháng 11-2001, Số 103
LÀNG VIỆT VỚI PHỐ, TRƯỚC PHỐ
LÀNG VIỆT VỚI PHỐ, TRƯỚC PHỐ
PGS. TSKH Nguyễn Hải Kế
1. Khi đặt làng Việt trước kinh tế hàng hoá và đô thị hoá (làng trước phố) thường đã diễn ra xu hướng nhìn nhận: thi vị hoá làng xã cổ truyền, bi kịch hoá quá trình đô thị hoá ở nông thôn.
Trong các thể loại văn học (thơ, văn, ký sự, truyện ngắn, tiểu thuyết...) từ cuối thế kỷ XIX khi các đô thị cận - hiện đại bắt đầu được phát triển như Hải Phòng, Nam Định, đặc biệt là trong những năm 30 rồi cuối những năm 80, 90 của thế kỷ XX trở lại đây không thiếu những báo động về tình trạng “phá vỡ” những chỉ định, những “giá trị văn hoá” của làng Việt cổ truyền, (từ những cảnh quan quen thuộc của làng Việt xưa: bờ tre, mái rạ, bến nước, giếng làng... đến “thuần phong mỹ tục”, những quan hệ con người với con người...)
Chẳng hạn, trước cảnh “ai khéo xoay ra phố nửa làng” của Vị Hoàng - Nam Định, Tú Xương (1870-1907) đã dóng dả:
“Có đất nào như đất ấy không?
Vì: “Nhà kia lỗi phép con khinh bố,
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”.
“Khua múa trống chuông chùa vẫn nức,
Xì xèo tôm tép chợ hầu tan....”
Vào năm đầu tiên của thiên niên kỷ III, trên trang nhất của báo An Ninh thế giới chạy một dòng chữ lớn “Hãy cứu lấy làng Việt cổ Đường Lâm”v.v…
Phải chăng như vậy là:
- Những cảnh quan = những biểu thị văn hoá nảy sinh từ làng Việt hôm qua sẽ “một đi không trở lại” là một tất yếu, là vô phương cứu chữa? hay giản đơn hơn là làng và phố sẽ ra sao trong đô thị hoá?...
- Làng xóm Việt cổ truyền là nơi chỉ sinh ra “thuần phong mỹ tục”? những mỹ tục đó gắn liền với những cảnh quan như luỹ tre, giếng nước, cây đa, bến nước, sân đình quen thuộc hàng ngàn năm? Quá trình đô thị hoá tất yếu sẽ làm mất đi những “thuần phong mỹ tục” đó?
2. Những năm 1976 - 1978, tôi có dịp khảo sát làng Dộc (Dục Tú - Đông Anh - Hà Nội). Sau đó, chuyên khảo “Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ” của tôi được hình thành từ những nguồn tư liệu thế kỷ XVIII, XIX đầu XX và kết quả khảo sát tại chỗ. Dòng cuối cùng của chuyên khảo này, tôi viết: “Dục Tú hôm qua trong bối cảnh: một làng tiểu nông trong một “thế giới” làng - xã tiểu nông Bắc Bộ, một bối cảnh trong đó chưa có sự đột phá mạnh mẽ, khắc nghiệt của nền sản xuất hàng hoá, thị trường, của yếu tố đô thị hoá vào trong luỹ tre xanh của làng Dộc - Đông Ngàn - Kinh Bắc”[1].
Bây giờ đã là năm 2004.
Cùng với cả nước, làng Dộc của ngoại thành Hà Nội đã hơn 15 năm bước vào công cuộc phát triển kinh tế hàng hoá, vào quá trình phát triển đô thị (đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ vì Dục Tú nằm trong khu vực phát triển đô thị Bắc Hà Nội). Tôi cũng có đôi dịp trở về Làng Dộc, vừa như một nhu cầu tình cảm, vừa để kiểm chứng nhận thức, dự cảm đã viết về cái làng gần gũi, thân thiết của tôi, để từ điểm xuất phát này thử nhìn xem các làng xóm người Việt châu thổ Bắc Bộ với tư cách là những đơn vị, kiểu thức đồng đẳng với làng Dộc với đô thị hoá như thế nào?
Tôi nhớ lại những kết quả phân tích cơ sở kinh tế, xã hội của làng Dộc cổ truyền: “Phân hoá ruộng đất tư dù đã đẩy đến một tình trạng thường xuyên có một phần cư dân không có “tấc đất cắm dùi”, nhưng lại chỉ nảy sinh và duy trì chế độ sở hữu nhỏ chứ không có và không tập trung ruộng đất vào tay sở hữu lớn”.
“Gia đình hạt nhân đã được khẳng định từ lâu và ngày càng một củng cố, tăng cường bằng cơ sở kinh tế - xã hội, nhưng hình bóng không phai mờ của “đại gia đình”- dòng họ vẫn tiếp tục được duy trì, luôn được khắc hoạ rõ trong một làng nhiều dòng họ.
Cùng với dòng họ, những tổ chức giáp, văn hội, vũ chức - những kiểu tổ chức“phi quan phương” - nảy sinh và duy trì trong đời sống làng - xã, đã góp phần quan trọng vào quan, hôn, tang, tế, những nghi thức vòng đời, những nhu cầu không thể thiếu được của con người xã hội, chức năng đương nhiên của mỗi tổ chức văn hoá - xã hội.
Những cảnh quan vật chất như luỹ tre, hào nước, đường làng, các ngôi đình, chùa, đền, miếu, cùng với những cơ chế hoạt động, duy trì gắn liền với nó ngoài chức năng cụ thể của mình còn ngày càng được tăng cường chức năng bảo hiểm an toàn, an ninh về vật chất, tinh thần cho các thành viên, cho cộng đồng.
Những chia bổ đóng góp triền miên cho việc hương ẩm trở thành vấn nạn của cuộc sống trong làng, trở thành một thứ sưu thuế trá hình - nặng nề hơn sưu thuế của nhà nước. Thế nhưng dù muốn hay không, sớm hay muộn cuối cùng mỗi thành viên của làng xã đều bị cuốn hút, gắn liền với nó...”
Nhớ lại một vài điều trên tôi chỉ tự nhắc mình về những băn khoăn, tự vấn đặt ra ở trên, để bớt chủ quan hơn, bớt “hoài cổ” hơn khi nhìn lại cái hôm qua từ hôm nay của làng Dộc - làng Dục Tú.
Điều gì đang diễn trước mắt tôi ở làng Dục Tú:
Nhiều cảnh quan từng được coi là chỉ định không thể thiếu được của một làng Dục Tú xưa không còn nữa:
- Con đường làng lát gạch nghiêng, dấu tích “công đức” của một thành viên giàu có của làng đóng góp vào năm 1860 và công sức của nhiều thế hệ. Thay thế là con đường đổ bê tông rộng rãi hơn nhiều.
- Những luỹ tre và toàn bộ dãy ao chuôm - viền quanh bìa làng như là dãy luỹ hào chạy song song bảo vệ làng Dộc, và hàng loạt gò đống, nhiều vườn cây bưởi, ổi bị lấp san để tăng thêm diện tích xây dựng nhà cửa.
- Hầu như không còn những ngôi nhà tranh vách đất đã đành mà những ngôi nhà vườn xưa của dòng họ Đỗ, Ngô, Đinh cũng được thay thế bằng ngôi nhà “ống” nằm trong khoảng tường xây xi măng bề ngang khoảng 4-5m dài 15-20m.
- Hàng loạt cánh đồng, thửa ruộng từng mang tên như Rạch Cả, Rạch Mông, Rộc Ngòi, Đồng Trên, Đồng Sâu, Cửa Đình... trong điền bạ, trong cách gọi của lớp tuổi 60 trở lên, đã được gọi bằng tên khác.
Nhiều cảnh quan, thiết chế văn hoá cũ vẫn tiếp tục, hơn thế được tăng cường:
- Một trong những cổng làng (trước cửa đình), giếng làng (nhưng không còn sử dụng nước), chợ làng được đầu tư nâng cấp xây dựng quy mô, mở ra ngay cổng làng. Dọc đường làng, nhiều nhà trổ thêm mở cửa ra mặt đường, làm quán, cửa hàng, cửa hiệu:
- Đình, chùa được trùng tu, sửa chữa, chăm sóc khang trang, thường xuyên. Nhiều cụ già ra đình chăm lo từng đôi câu đối, cúng thêm một số đôi câu đối mới;
- Nhiều ngôi từ đường của các dòng họ được sửa hoặc xây mới. Một số dòng họ tập trung dịch gia phả cũ ra chữ Việt, soạn gia phả mới, viết lịch sử làng, viết chuyện làng....
Bộ phận đông đảo, thường xuyên tích cực trong đề xướng, tổ chức và thực hiện những hoạt động này là các cụ, bộ đội, cán bộ về nghỉ tại làng...
Hàng loạt những công trình mới, cách thức hoạt động văn hoá - hoàn toàn không có trong làng Dộc ngày hôm qua đã xuất hiện: nhà bưu điện văn hoá, nghĩa trang liệt sĩ, trường học mới...
Dễ nhận thấy là:
- Những cảnh quan gắn liền với các hoạt động giao thông, đi lại, với cách thức bảo vệ trị an xưa của làng xóm, với hoạt động kinh tế (sản xuất nông nghiệp) bị mất đi hoặc thay đổi, thay thế nhiều nhất.
- Những cảnh quan, quan hệ đến hoạt động tín ngưỡng, hội hè đến đời sống tâm linh được duy trì, tăng cường.
Trong cái văn hoá nảy sinh và tồn tại trong suốt ngày hôm qua ở làng xóm Việt châu thổ Bắc Bộ có cái cốt là tính phổ biến, là cái chung nhân loại với tư cách trước hết là khu định cư, là cái tổ của con người xã hội. Cái tổ đó cần phải có những kết cấu tối thiểu đáp ứng cho nhu cầu ở, nhu cầu tái sản xuất ra con người sức lao động, và năng lực xã hội. Mặt khác, cái kết cấu đó là do đặc điểm tự nhiên, lịch sử, tộc người, kinh tế xã hội cụ thể, thường xuyên quy định. Khi những điều kiện (môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội) có chuyển biến, thay đổi (không ít trong đó là cái chưa từng có trong hàng ngàn năm qua là khác hẳn về chất dù về hình thức, thậm chí cả tên gọi vẫn tương tự như ngày hôm qua), thì sự mất đi cái đã có, nảy sinh những cái mới, cái tương ứng là có tính quy luật, là đương nhiên.
Vẫn “Biết thế” là một chuyện, còn nuối tiếc, hoài cổ, thấy trống vắng một điều từng có từ hàng trăm năm, quen thuộc, gắn với nhiều thế hệ lại là một chuyện. Âu cũng là điều của tâm lý, thậm chí nhận thức nữa của con người.
3. Phải nói ngay rằng chỉ từ sau xuất hiện đô thị cận hiện đại, xuất hiện tầng lớp thị dân, trong đối diện của văn minh, kỹ thuật đô thị với xóm làng thì từ “thôn quê”, “nhà quê” mới hàm ý coi thường, chê bai, khinh khi. Còn, trước đó và trong tâm khảm của người Việt, làng hay thôn gắn liền quê (làng quê, quê hương), làng gắn liền nước (làng nước) với ý nghĩa phản ánh, gợi cảm về nền tảng của điểm xuất phát, chốn đi - về với mỗi cá nhân, về mối quan hệ gắn bó hữu cơ, bước phát triển tự nhiên từ xóm làng đến đất nước.
Với xã hội Việt Nam truyền thống thì cả hai bộ phận của thành thị (hay đô thị) nó đều lôi cuốn, hấp dẫn nhưng cũng mâu thuẫn và bị căn tính làng xã, tiểu nông chi phối.
Thành (hay đô) với tư cách là trung tâm hành chính, chính trị, chỗ ở của quan, lại, lính... hấp dẫn với nông dân xóm làng, bởi định hướng, bởi ước vọng làm quan sang, như là biểu hiện của sự thành đạt, danh lợi.
Thị (chợ búa, buôn bán) với đặc trưng quan trọng, khác biệt căn bản là kinh tế hàng hoá, dịch vụ, là sinh lợi.
Thành thị là thương trường, là cạnh tranh, là con người trở thành vô danh tính trong quan hệ, (khác hẳn và nhỏ bé cả về lượng lẫn về chất, về thời gian và phạm vi không gian so với xã hội xóm làng với kinh tế tự túc, tự cấp tiểu nông). Chính vì vậy mà trong lịch sử văn hoá Việt Nam, thành thị từ rất sớm đã khiến cho tâm trạng của lớp trí thức sĩ - hoạn - bộ phận nhiều hoài vọng và cũng dễ thất vọng nhất, mệt mỏi ít nhất đã thấy từ XV, XVI trở đi qua tâm trạng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“ Ta dại ta về nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”
“Thành thị vốn đua chen giành giật”
“Vật vờ thành thị làm chi nữa
Ít tiếng khen thì vắng tiếng chê”
“Lọ là thành thị, lọ lâm tuyền
Được thú ít hơn, miễn phận yên”
Dù đã đến với phố, ở với phố, với thị, thì người Việt hôm qua cũng mang theo làng hay về với làng theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen của từ này.
4. Trí thức, kinh nghiệm của cha ông ta tổng kết: “Phi thương bất phú, phi trí bất hưng, phi nông bất ổn” (Không làm/ có thương nghiệp thì không giàu, không có/ phát triển trí thức thì không hưng thịnh, không có/ dựa vào nông nghiệp thì không ổn định).
Thẩm định ấy vừa đánh giá vai trò, vị trí của từng lĩnh vực, vừa chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ tất yếu giữa các lĩnh vực này với/ trong sự trường tồn, phát triển của đất nước. Trong ý nghĩa của lời thẩm định đó, nông nghiệp, nông thôn là cơ sở đầu tiên, thường xuyên trong quá trình phát triển không chỉ đối với hôm qua của Việt Nam.
So với những kiểu tổ chức cộng đồng, xã hội xuất hiện trên trái đất, trên Việt Nam này, xóm làng nước Việt có kiểu thức tập hợp, tổ chức cộng đồng tổng hợp, phong phú tiêu biểu cho hầu hết các nguyên tắc tập hợp, tổ chức cộng đồng (huyết thống, địa vực láng giềng, nghề nghiệp, giới, lứa tuổi, cùng quyền lợi...) Quan hệ huyết thống, tự nhiên - điểm xuất phát để hình thành một điểm định cư, của xã hội nguyên thuỷ. Cùng với thời gian, với những thăng, trầm những nhu cầu tự thân của kinh tế, xã hội, của diễn trình lịch sử trong làng xóm, đã gia tăng và đan quyện những kiểu, dạng quan hệ: địa vực - láng giềng, quan hệ theo nghề nghiệp (buôn bán, thợ thủ công, tư văn, tư võ...), quan hệ theo giới (vãi, giáp) theo thang lứa, theo quyền lợi... Cách thức tổ chức, quan hệ cộng đồng của làng, xóm Việt Nam đã tạo ra thế giới - làng với nhiều chiều kích, đáp ứng từ những nhu cầu kinh tế, văn hoá, xã hội, của cuộc sống thường nhật đến cả tâm trạng thăng hoa, nhu cầu hay nghi thức vòng đời của hiện tại lẫn tương lai: quan, hôn, tang, tế... Các quan hệ đó vừa đan theo chiều ngang, vừa kết theo chiều dọc, vừa gây dựng được tình cảm cộng đồng được thân gần, ruột thịt, bảo hiểm, bảo hộ nhiều mặt (kinh tế, văn hoá, xã hội) đối với cuộc sống của các thành viên, vừa tạo ra trường ganh đua phấn đấu cho mỗi cá nhân và các thế hệ thành viên của làng.
Nhân loại đã từng và hiện có nhiều hình, dạng thức tổ chức cộng đồng, đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống con người. Đặc biệt đến thời hiện đại cùng với bước phát triển của kinh tế, xã hội đã nảy sinh nhiều hình thức tập hợp cộng đồng, đoàn thể tương thích với những nhu cầu ngày càng đa dạng, phức tạp, quyết liệt, cụ thể, tỷ mỷ của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá. Không ít những dạng, kiểu tổ chức tập hợp ấy từng đã có hiệu quả nhất định khi đáp ứng một hay một số những nhu cầu cần thiết của một thời, của một đời. Nhưng khi nhu cầu nhất thời đó qua đi, kiểu tổ chức tương ứng đó cũng mất theo. Chỉ có kiểu thức tập hợp và tổ chức cộng đồng - kiểu thức nảy sinh và ngày một tăng cường từ trong xã hội nông nghiệp lúa nước Việt Nam mới vừa gắn liền và đáp ứng được những nhu cầu của một kiếp người đương đại với những đòi hỏi muôn thuở của cõi kiếp người. Nói cách khác tổ chức cộng đồng xã hội - làng xóm Việt Nam vì nó đáp ứng được một cách hài hoà, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều khía cạnh của “con người với ý nghĩa là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” nên bền vững với mọi biến động, thử thách, thời gian. Chính vì thế, trong nhiều hoàn cảnh dù ở giữa phố phường đô thị, hay miền sâu, miền xa, trong nam, ngoài bắc, đối mặt với thương trường, với cạnh tranh, với cô đơn, lo toan, gian khó... làng xóm lại trở về, lại ở trong, ở bên mỗi thân phận con người như một cẩm nang.
Với ý nghĩa đó làng trở thành bộ phận không thể thiếu được trong quá trình phát triển của đô thị hiện đại, nói cách khác trong tương lai của quá trình đô thị, càng đô thị càng cần có một kiểu - không - gian - làng, kiểu thức kiến trúc làng, thiết chế văn hoá đã được sàng tuyển của xã hội làng.
Làng Quang - Thanh Trì
2002 - 2004
[1] Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb KHXH, H. 1996. Những dòng chữ in nghiêng dưới là trích lại từ cuốn sách này.
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)